Top 8 # Xử Lý Tài Sản Thế Chấp Theo Nghị Quyết 42 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Của Ngân Hàng Theo Nghị Quyết 42/2017/Qh14

Ngân hàng thương mại có thể thu giữ tài sản thế chấp của khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả nợ khi đến hạn, tuy nhiên, việc thu giữ cần tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật.

Hợp đồng vay tín dụng tại Ngân hàng thương mại

Hợp đồng tín dụng là một trong những loại hợp đồng dân sự, tuy nhiên chủ thể của quan hệ này giữa khách hàng và tổ chức tín dụng (đặc biệt là ngân hàng thương mại). Theo quy định của pháp luật dân sự, hợp đồng là sự thỏa thuận của của hai hay nhiều bên làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Như vậy có thể hiểu, hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) và khách hàng theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Ngay trong định nghĩa có thể thấy được hợp đồng tín dụng đơn giản là một sự thỏa thuận giữa hai bên. Xuất phát là một quan hệ dân sự, các nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng tín dụng dựa trên các nguyên tắc chung của Bộ luật dân sự năm 2015. Thương lượng, thỏa thuận, bình đẳng là nguyên tắc điển hình của quan hệ dân sự.

Quan hệ tín dụng là quan hệ bình đẳng trong đó, khách hàng và tổ chức tín dụng bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. Không vì bất kỳ lý do khách quan hoặc chủ quan mà quan hệ này bị thay đổi bản chất.

Tùy vào tiêu chí phân loại mà hợp đồng tín dụng được chia thành nhiều loại khác nhau. Hiện nay dựa vào mục đích sử dụng, hợp đông tín dụng được chia thành hai loại: hợp đồng cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh và hợp động cho vay phục vụ nhu cầu đời sống (hợp đồng tín dụng tiêu dùng). Hiện nay hơn 90% nhu cầu cho vây cho Ngân hàng thương mại phục vụ nhu cầu kinh doanh của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp. Các cá nhân, doanh nghiệp thỏa thuận vay khoản tiền của ngân hàng ào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình.

Hợp đồng thế chấp nhằm bảo đảm cho hợp đồng tín dụng

Để đảm bảo cho khả năng hoàn trả các khoản tiền vay của khách hàng cho ngân hàng thương mại (tổ chức tín dụng), thông thường ngân hàng thương mại và khách hàng sẽ thành lập bên cạnh hợp đồng tín dụng là các hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Trong 07 (bảy) biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, thế chấp tài sản là biện pháp thường được sử dụng nhiều nhất. Hợp đồng thế chất bản chất là một biện pháp bảo đảm nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng. Thông thường, các tài sản thế chấp thường là bất động sản như đất, nhà. Trong trường hợp khách hàng đến hạn thanh toán mà không trả được nợ hoặc trả không đủ số nợ, hợp đồng thế chấp là căn cứ để đảm bảo cho việc trả nợ cho khách hàng, ràng buộc khách hàng trả đúng, đủ khoản vay.

Ngân hàng có thể thu giữ tài sản thế chấp trong những trường hợp nào?

Là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, do vậy, các quy định về xử lý , thu giữ tài sản bảo đảm được thực hiện theo Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm và Nghị quyết 42/2017/NQ-QH về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Trong trường hợp, bên vay không hoặc chưa trả nợ khi đến hạn nghĩa là bên vay vi phạm nghĩa vụ đối với ngân hàng thương mại. Trong trường hợp này tranh chấp có thể xảy ra. Trong trường hợp khách hàng không trả được khoản nợ đối với ngân hàng, để đảm bảo quyền lợi của ngân hàng thương mại, pháp luật quy định về các phương thức giải quyết. Quan hệ tín dụng là quan hệ dân sự, do vậy việc giải quyết tranh chấp về việc không thực hiện nghĩa vụ của khách hàng có thể được thực hiện bằng hai phương thức giải quyết: Xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật dân sự hoặc giải quyết tranh chấp tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong trường hợp tranh chấp không được giải quyết, ngân hàng có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

Về trường hợp xử lý tài sản bảo đảm, Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản bảo đảm chỉ được xử lý trong 03 trường hợp: đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.

Về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được xử lý trên sự thỏa thuận của các bên. Điều 303 quy định có 04 phương thức xử lý tài sản bảo đảm gồm: bán đấu giá tài sản; bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; phương thức khác. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm đều phải dựa trên sự thỏa thuận của các bên. Vì vậy không có trường hợp một trong các bên đơn phương xử lý tài sản bảo đảm. Đối với trường hợp ngân hàng thương mại nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của khác hàng thì phải được thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận, ngân hàng thương mại chỉ được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi khách hàng (bên bảo đảm) đồng ý bằng văn bản.

Đây là những quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc xử lý tài sản thế chấp, trường hợp ngân hàng thương mại nhận chính tài sản bảo đảm buộc phải tuân thủ quy định nêu trên.

Trong trường hợp nợ xấu theo quy định, ngân hàng thương mại có thể áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Theo đó, ngân hàng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm nhưng phải đáp ứng các điều kiện, quy trình Nghị quyết này quy định.

Thông tư 02/2013/TT-NHNH quy định về phân loại nợ ngân hàng bao gồm 05 nhóm: Nợ đủ tiêu chuẩn (nợ nhóm 1: Nợ trong hạn, hoặc quá hạn dưới 10 ngày), nợ cần chú ý (nợ nhóm 2: Quá hạn từ 10 – 90 ngày;), Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3: Quá hạn từ 91 – 180 ngày;); Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4: Quá hạn từ 181 – 360 ngày) và nợ có khả năng mất vốn dựa vào tình trạng quá hạn (nợ nhóm 5: Nợ quá hạn trên 360 ngày). Trong đó, nợ nhóm 3, 4, 5 thuộc nhóm nợ xấu và được áp dụng quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14.

Cụ thể là khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có nghĩa vụ kèm theo đầy đủ giấy tờ, hồ sơ pháp lý của tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu để xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm hoặc trong văn bản khác (sau đây gọi là hợp đồng bảo đảm) và quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Như vậy có thể hiểu rằng, ngân hàng thương mại có quyền thu giữ tài sản thế chấp trong trường hợp giữa ngân hàng thương mại và khách hàng có thỏa thuận rõ rằng trong hợp đồng bảo đảm về quyền thu giữ của ngân hàng thương mại. Đồng thời việc thu giữ tài sản bảo đảm phải đúng quy định của Nghị quyết này.

Khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 42/2017/QH14 quy định: “Chậm nhất là 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu thực hiện công khai thông tin về thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ theo quy định sau đây: a) Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình; b) Gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an nơi có tài sản bảo đảm; c) Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo đảm; d) Thông báo cho bên bảo đảm bằng văn bản theo đường bưu điện có bảo đảm đến địa chỉ của bên bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm hoặc gửi trực tiếp cho bên bảo đảm.”

Trong một số trường hợp tài sản thế chấp là bất động sản bao gồm: nhà ở hoặc quyền sử dụng đất, ngân hàng thương mại phải công khai đầy đủ thông tin về thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ nhằm đảm bảo công khai,minh bạch trong việc xử lý nợ xấu, tránh các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý nợ xấu. Theo đó, trước khi tiến hành thu giữ tài sản là bất động sản, ngân hàng phải đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình; gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an nơi có tài sản bảo đảm; niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo đảm. Đặc biệt, ngân hàng thương mại phải thông báo cho khách hàng được biết về việc thu giữ tài sản bảo đảm.

Như vậy, ngân hàng có quyền thu giữ tài sản trong trường hợp xử lý nợ xấu nhưng phải đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định. Trường hợp có tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thì cần phải đưa tranh chấp ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định chứ không được tùy tiện “cưỡng chế”, “tịch thu” tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức; xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Tuy nhiên cần lưu ý, Nghị quyết 42/2017/QH14 chỉ thí điểm về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Do vậy, việc áp dụng các quy định này cần phải có sự hướng dẫn cụ thể.

Một số trường hợp ngân hàng đơn phương thu hồi tài sản của khách hàng mặc dù khách hàng không đồng ý? Có vi phạm quy định pháp luật?

Hiện nay, xuất hiện một số vụ việc ngân hàng thương mại tự ý thu giữ tài sản của khách hàng mà không có sự đồng ý của khách hàng như chặn xe uy hiếp, chiếm nhà bất hợp pháp, đe dọa uy hiếp khách hàng giao nộp tài sản…Việc thu giữ tài sản bảo đảm như vậy không đúng theo quy định của pháp luật. Những hành vi uy hiếp, đe dọa, dùng vũ lực kiểu “xã hội đen” tùy vào mức độ nguy hiểm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, các tổ chức tín dụng khi thu giữ tài sản thế chấp cần tuân thủ các quy định của pháp luật, tránh tình trạng sử dụng những biện pháp trái quy định pháp luật.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Nút Thắt Là Tài Sản Đảm Bảo

Các chuyên gia cho rằng, để quá trình xử lý nợ xấu mang lại hiệu quả cao hơn, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần nhanh chóng, chủ động, tích cực tháo gỡ các vướng mắc.

Đến nay, Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu (Nghị quyết 42) đã đi được hơn 1/3 chặng đường thực hiện. Dù kết quả đã đạt được là khá rõ nét, nhưng theo các chuyên gia và những người thực hiện xử lý nợ trực tiếp thì vẫn còn một số vướng mắc cần được tháo gỡ để Nghị quyết 42 phát huy hiệu quả cao hơn…

Đi vào thực chất

Chuyên gia tài chính ngân hàng Cấn Văn Lực đánh giá cách thức quản lý, theo dõi, đánh giá nợ xấu có bước tiến rõ nét làm động lực thúc đẩy xử lý nợ xấu theo hướng chủ động và thực chất hơn. Theo đó, tại Đề án 1058 về “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020,” mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu gộp (gồm nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa được xử lý và nợ xấu tiềm ẩn) về mức 3% đến năm 2020 đã được đưa ra thay cho chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu thường thấy trước đây.

Cũng theo ông Lực, việc đưa ra mục tiêu tỷ lệ nợ xấu gộp đã giúp cho công tác quản lý nợ xấu tại các cơ quan quản lý cũng như tổ chức tín dụng đi vào thực chất hơn, tạo động lực và cả áp lực đối với hệ thống các tổ chức tín dụng trong việc tích cực, chủ động xử lý nợ xấu.

Chính vì vậy, tính đến cuối năm 2018, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các tổ chức tín dụng đã giảm xuống mức 1,89% (so với mức 1,99% cuối năm 2017 và 2,46% cuối năm 2016) và tỷ lệ nợ xấu gộp khoảng 6,67% tổng dư nợ, giảm mạnh so với mức 10,08% vào cuối năm 2016 và 7,36% cuối năm 2017.

Tại buổi công bố kết quả hoạt động quý 1, bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến cuối tháng Một, ước tính toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 204.400 tỷ đồng nợ xấu, ước đạt trên 40,1% tổng số nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42. Riêng năm 2018 đã xử lý được 113.400 tỷ đồng, trong đó xử lý nợ xấu nội bảng ước đạt 117.200 tỷ đồng.

Bà Hồng cho biết, kết quả xử lý nợ xấu như vậy là rất khả quan. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng đang được duy trì dưới 2%.

Các giải pháp xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh, đã góp phần nâng cao chất lượng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Còn nhiều vướng mắc

Chủ tịch Hội đồng quản trị VAMC Nguyễn Tiến Đông cho biết, hiện tại, VAMC cũng như tổ chức tín dụng đang gặp một số vướng mắc trong quá trình triển khai theo Nghị quyết 42.

Đơn cử, việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn rất hạn chế, thứ tự ưu tiên xử lý trong vụ việc có nhiều tài sản thi hành án được hiểu và áp dụng khác nhau. Trong chuyển nhượng dự án bất động sản cũng gặp vướng mắc. Sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương vẫn chưa đồng đều do cách hiểu khác nhau, nên có nơi hỗ trợ rất tốt, nhưng có nơi vẫn chưa tích cực…

Ông Đông nhấn mạnh, giải quyết những vấn đề lớn này cần sự vào cuộc chung của toàn hệ thống để chỉnh sửa kịp thời các quy định được đặt ra như Bộ Tài chính có quy định cụ thể về nghĩa vụ thuế như thế nào, Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn chuyển nhượng dự án bất động sản ra sao…

Theo Nghị quyết 42, quyền thu giữ tài sản bảo đảm đi kèm với điều kiện hồ sơ thế chấp phải có thỏa thuận về điều khoản thu giữ tài sản bảo đảm, trong khi đó tính đến thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực, nhiều hợp đồng thế chấp chưa có điều khoản này. Vì vậy, các tổ chức tín dụng cần đàm phán với bên vay để điều chỉnh hợp đồng.

Ngoài ra, ngay cả với những khoản vay đáp ứng được điều kiện này thì việc thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng vẫn cần đến sự hỗ trợ của cơ quan công an các cấp. Tuy nhiên, đến nay Bộ Công an vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về cơ chế, cách thức thực hiện cưỡng chế đối với các trường hợp bên bảo đảm chống đối, không hợp tác. Do đó, việc thu giữ tài sản bảo đảm thành công hay không hiện nay phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay (bên bảo đảm).

Các chuyên gia cho rằng, để quá trình xử lý nợ xấu và thực hiện Nghị quyết 42 mang lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu đề ra, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần nhanh chóng, chủ động, tích cực tháo gỡ các vướng mắc nêu trên. Đồng thời, cần nghiêm túc thực hiện đánh giá kết quả thực hiện giữa kỳ vào thời điểm cuối năm 2019…

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Vẫn Vướng Việc Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Mới đây, tại Hội nghị tiếp xúc cử tri về kết quả thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) và đề xuất kiến nghị trong thời gian tới, những kết quả đạt được cũng như những khó khăn về tình hình xử lý nợ xấu đã được các đại biểu tham dự phân tích, mổ xẻ.

Thống kê của ngành ngân hàng cho thấy, lũy kế đến 30/6/2019, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đã xử lý được trên 263,51 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42. Trong đó, trong 6 tháng đầu năm 2019, đã xử lý được 64,97 nghìn tỷ đồng. Xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết 42 chủ yếu thông qua hình thức khách hàng trả nợ.

Xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 vẫn vướng việc thu giữ tài sản đảm bảo

Điều này phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện khi TCTD, Công ty quản lý tài sản các TCTD Việt Nam (VAMC) có quyền thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ) theo Nghị quyết 42. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

Riêng trên địa bàn TP. Hà Nội, lũy kế từ 15/8/2017 đến nay, nợ xấu đã xử lý theo Nghị quyết 42 của các TCTD trên địa bàn là trên 46 nghìn tỷ đồng. Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 16,38 nghìn tỷ đồng (chiếm 35,2%); xử lý các khoản nợ xấu đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán là 8,42 nghìn tỷ đồng (chiếm 18,1%); Nợ xấu đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 21,68 nghìn tỷ đồng (chiếm 46,7%).

Ngoài ra, đến thời điểm 30/6/2019 các TCTD trên địa bàn đã sử dụng 26,45 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng theo Nghị quyết 42.

Ông Nguyễn Minh Tuấn – Giám đốc NHNN Chi nhánh TP. Hà Nội cho biết, sau hai năm Nghị quyết 42 đi vào thực tiễn, tỷ lệ nợ xấu có những bước chuyển biến rõ nét, góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cụ thể, tại thời điểm 31/7/2017 tỷ lệ nợ xấu là 2,8%/ tổng dư nợ; đến 30/6/2019 tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 2,02%/tổng dư nợ.

Tuy nhiên, theo các TCTD trên địa bàn, mặc dù Nghị quyết 42 đã triển khai gần hai năm nhưng vẫn gặp những khó khăn, vướng mắc trong thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ); các cơ quan thực thi nhiệm vụ chưa vào cuộc quyết liệt.

Một khó khăn nữa là việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ và xử lý TSBĐ đang rất khó khăn; hay việc nhiều văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tại Hà Nội chưa áp dụng thực hiện đối với trường hợp TSBĐ phát mại được tạm thời chưa thu thuế…

M.T

Vamc Bắt Đầu Xử Lý Nợ Theo Nghị Quyết 42: Sài Gòn One Tower Bị Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

VAMC bắt đầu khởi động thu giữ tài sản đảm bảo để xử lý nợ xấu theo NQ42

Theo VAMC, việc thu giữ được thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các Tổ chức tín dụng; Chỉ thị số 32/CT-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị số 06/CT-NHNN ngày 20/7/2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc thực hiện Nghị quyết số 42, ngày 21/8/2017.

Trước đó, VAMC đã ký Hợp đồng mua nợ với một số tổ chức tín dụng đối với khoản nợ của nhóm khách hàng bao gồm: Công ty CP Sài Gòn One Tower (trước đây là Công ty CP Địa Ốc Sài Gòn M&C); Công ty CP Đầu tư Liên Phát; Công ty CP TVĐT và XD Minh Quân; Công ty CP Tân Superdeck M&C với tổng dư nợ (gốc và lãi) đến thời điểm hiện nay đã lên trên 7.000 tỷ đồng. Mặc dù VAMC đã nhiều lần có văn bản đôn đốc, làm việc và yêu cầu nhóm khách hàng nêu trên thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên khách hàng không thực hiện và cũng không có phương án trả nợ khả thi.

VAMC đã yêu cầu Công ty CP Sài Gòn One Tower bàn giao tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đối với toàn bộ nghĩa vụ của các khách hàng gồm Công ty Cổ phần Sài gòn One Tower, Công ty CP Đầu tư Liên Phát, Công ty CP TV ĐT và XD Minh Quân, Công ty CP Tân Superdeck M&C. Đến nay, Công ty CP Sài Gòn One Tower vẫn không thực hiện bàn giao tài sản.

Vì vậy, VAMC đã triển khai thu giữ tài sản bảo đảm là Dự án đầu tư Cao ốc phức hợp Sài Gòn M&C tại địa chỉ 34 Tôn Đức Thắng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh để xử lý nhằm thu hồi nợ. Quá trình thu giữ đã tuân thủ theo đúng trình tự quy định tại Điều 7 Nghị quyết 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Trong quá trình thu giữ, VAMC đã nhận được sự phối hợp tích cực của các cơ quan chức năng cũng như chính quyền địa phương. Quá trình thu giữ tài sản bảo đảm đã diễn ra thuận lợi và đúng theo quy định của pháp luật.

Xác định đây là khoản nợ lớn, việc VAMC thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm sẽ góp phần triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 42 để xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu và tài sản bảo đảm của nợ xấu thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết 42, đồng thời mang tính cảnh báo đến các khách hàng có nợ xấu nhằm nâng cao ý thức trả nợ của khách hàng cho VAMC cũng như TCTD.