Top 8 # Xuất Xứ Của Văn Bản Là Gì Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Luật Xuất Bản Là Gì ? Tìm Hiểu Về Luật Xuất Bản

Văn bản luật chứa đựng có hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh chế độ, hoạt động xuất bản ở Việt Nam, dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, bảo đảm quyền Sáng tạo và phổ biến tác phẩm của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – kinh tế – xã hội, lực lượng vũ trang qua hình thức xuất bản phẩm; tăng cường sự quản Ií của Nhà nước, phát huy vai trò của hoạt động xuất bản trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luật xuất bản được Quốc hội Khoá IX thông qua ngày 07.7.1993, Chủ tịch nước kí lệnh công bố ngày 19.7.1993, sau hơn 10 năm phát huy hiệu lực, đã được thay thế bởi Luật xuất bản được Quốc hội Khoá XI, kì họp thứ 6 thông qua ngày 03.12.2004. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật xuất bản năm 2004 là toàn bộ những vấn đề thuộc chế độ xuất bản và hoạt động xuất bản ở Việt Nam, gồm các lĩnh vực xuất bản, in ấn, phát hành xuất bản phẩm với các loại hình: sách, tài liệu, tranh, ảnh, áp phích, catalô, tờ rơi, tờ gấp, lịch, bản đồ, át lát, bản nhạc, cờ, truyền đơn, khẩu hiệu, câu đối, cuốn thư, băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình thay sách hoặc kèm theo sách. Tác giả có quyền phổ biến tác phẩm của mình thông.qua nhà xuất bản, được hưởng các quyền lợi về tỉnh thần và vật chất đối với tác phẩm theo quy định của Luật xuất bản, các quy định khác của pháp luật về quyền tác giả, được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả. Đồng thời, tác giả phải chịu trách nhiệm về nội dung tác phẩm của mình trước pháp luật. Luật xuất bản cũng quy định quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức đối với hoạt động xuất bản; những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lí nhà nước về xuất bản; quyền và nghĩa vụ cúa Giám đốc, Tổng biên tập nhà xuất bản, tác giả, cơ quan chủ quản và cơ quan quản lí nhà nước về xuất bản, các cơ sở in, nhân bản, các tổ chức phát hành xuất bản phẩm. Không một tổ chức, cá nhân nào được cản trở quyền phổ biến tác phẩm, quyền hoạt động xuất bản hợp pháp của các nhà xuất bản; nghiêm cấm các hành vi lợi dụng quyền phổ biến tác phẩm, quyền hoạt động xuất bản làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân; nghiêm cấm việc phát hành những xuất bản phẩm đã có quyết định thu hồi, tịch thu hoặc cấm lưu hành.

Chế độ xuất bản ở nước ta lần đầu được pháp luật quy định tại Sắc luật số 003/SLT ngày 18.6.1957. Cho đến thời kì đổi mới, nhằm phát huy vai trò của hoạt động xuất bản trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tăng cường sự quản lí nhà nước đối với hoạt động xuất bản, bảo đảm cho các hoạt động xuất bản tiến hành đúng pháp luật, có kế hoạch, trật tự, ngăn chặn mọi tư tưởng, hành vị làm tốn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam.

Về bố cục và nội dung cơ bản, Luật xuất bản năm 2004 có Lời nói đầu, 6 chương và 45 điều, mỗi chương đều có tên gọi và các điều luật phản ánh những nội dung chính của chương đó. Chương ! – Những quy định chung (4 điều) xác định hoạt động xuất bản là hoạt động thuộc lĩnh Vực văn hoá, tư tưởng thông qua việc sản xuất, phổ biến những xuất bản phẩm đến nhiều người và không phải là hoạt động kinh doanh đơn thuần. Mục đích chủ yếu của hoạt động xuất bản là phổ biến những tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật; giới thiệu những di sản văn hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá thế giới, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống tỉnh thần của nhân dân, mở rộng giao lưu văn hoá với các nước trên thế giới… Nhà nước thống nhất quản lí hoạt động xuất bản trong cả nước, có các biện pháp để bảo vệ hoạt động xuất bản đúng pháp luật.

Chương II quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức đối với hoạt động xuất bản. Công dân, tổ chức có quyền phổ biến tác phẩm dưới hình thức xuất bản phẩm thông qua nhà xuất bản, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm và được Nhà nước bảo hộ về quyền tác giả.

Chương III quy định về tổ chức và hoạt động xuất bản gồm 3 mục chính: xuất bản; in; phát hành xuất bản phẩm. Việc thành lập các nhà xuất bản phải tuân theo đúng thủ tục mà Luật xuất bản quy định khi đáp ứng các điều kiện nhất định. Nhà xuất bản thực hiện việc xuất bản, tái bản tác phẩm theo hợp đồng xuất bản đã kí kết với tác giả, đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích, không được xuất bản những xuất bản phẩm có nội dung bị pháp luật nghiêm cấm. Các cơ sở in, nhân bản chỉ được phép in, nhân bản xuất bản phẩm khi có giấy phép xuất bản hợp pháp và sau khi đã kí hợp đồng kinh tế với nhà xuất bản theo đúng quy định của pháp luật. Tổ chức phát hành của Nhà nước có trách nhiệm phát hành xuất bản phẩm của các nhà xuất bản tới người sử dụng. Tổ chức, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm chỉ được phép giấy phép của cơ quan quản lí nhà nước về xuất bản và hoàn thành các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Chương IV quy định về nội dung quản lí nhà nước về hoạt động xuất bản, gồm: cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước đối với hoạt động xuất bản trong cả nước là Bộ Văn hoá – Thông tin. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc quản lí nhà nước về hoạt động xuất bản ở địa phương. Bộ Văn hoá – Thông tin xây dựng hệ thống tổ chức thanh tra chuyên ngành về hoạt động xuất bản trong cả nước. Chương V quy định về khen thưởng và xử lí vi phạm. Các tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động xuất bản, in, phát hành sẽ được khen thưởng theo quy định của Nhà nước. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về xuất bản đều bị xử lí nghiêm minh, tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà áp dụng các chế tài kỉ luật, xử lí vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Chương VI quy định về điều khoản thi hành.

Văn Bản Hai Cây Phong Tìm Hiểu Xuất Xứ Của Vb Tìm Hiểu Những Chi Tiết Của Làng Ku

a. Xuất xứ

– Hai cây phong là phần đầu truyện Người thầy đầu tiên.

– Đôi nét về tác phẩm Người thầy đầu tiên:

+ Mở đầu tác phẩm là hình ảnh hai cây phong cao lớn được trồng cạnh nhau trên một ngọn đồi lộng gió. Không ai biết rõ về nguồn gốc của hai cây phong đó. Mãi sau nay, khi làng Cu-cu-rêu đón bà An-tư-nai một người hoạ sĩ nổi tiếng cũng là người dân làng về mở trường, bí mật về hai cây phong mới được hé lộ.

+ Antưnai năm 15 tuổi đã có một tuổi thơ vô cùng bất hạnh. Cô bé phải sống với người thím độc ác luôn đánh đập cô bé. Vào một ngày nọ, thầy giáo Đuy-sen một người thanh niên cộng sản được cử về mở trường dạy học ở làng Cu-cu-rêu, hai người đã gặp nhau. Thầy Đuy-sen vô cùng quý mến An-tư-nai và cầu xin gia đình bà thím cho An-tư-nai đi học. Sau bao nhiêu vất vả, cuối cùng thầy đã thành công.

+ Thầy Đuy-sen và An-tư-nai cùng lũ học trò đã trải qua rất nhiều khó khăn, trong thời tiết khắc nghiệt với cái rét lạnh cóng nhưng họ vẫn có một nghị lực phi thường. Nhưng không may mắn, bà thím An-tư-nai đã quyết gả cô cho một tên quý tộc to lớn và thô thiển để lấy tiền. Thầy Đuy-sen đã ra sức bảo vệ An-tư-nai. Hai thầy trò đã cùng nhau trồng hai cây phong bé nhỏ trên ngọn đồi và thầy Đuy-sen nói với An-tư-nai rằng giờ đây An-tư-nai như hai cây phong này vậy, nhưng sau này, khi lớn lên, An-tư-nai chắc chắn sẽ thành công.

+ Nhưng sự thật quá phũ phàng, An-tư-nai vẫn bị bắt đi làm vợ lẽ mặc sức thầy Đuy-sen đã ra sức chống cự bọn quý tộc đến nỗi bị chúng đánh gãy tay và máu chảy đầm đìa.

+ Sau ba ngày sống trong địa ngục, cuối cùng An-tư-nai đã được thầy Đuy-sen cùng công an giải cứu và đưa lên tỉnh học. Lúc này, An-tư-nai đã biết mình có tình cảm với thầy Đuy-sen. Cô viết thư cho thầy nhưng Đuy-sen không muốn làm ảnh hưởng tới việc học của An-tư-nai, anh đã không trả lời. Đã mấy lần An-tư-nai nhìn lần người khác thành Đuy-sen nhưng dường như điều đó gần như vô vọng vì Đuy-sen đã đi bộ đội và bị báo tin mất tích… Năm 1946, An-tư-nai trở về quê hương xưa, nơi cô đã lớn lên, đã sống những ngày tháng cùng với người thầy Đuy-sen của mình, đặt tên cho ngôi trường mà cô đỡ đầu là: “Trường Đuy-sen” – ngôi trường mang tên người cộng sản đầu tiên.

b. Những chi tiết của làng ku-ku-rêu: Kỉ niệm bọn trẻ chạy ào lên phá tổ chim. Chân đất, bám vào các mắt mấu…chấn động cả vương quốc loài chim. Ngồi dưới cành cây suy nghĩ…lắng nghe tiếng gió.

c. Hình ảnh hai cây phong

– Hai cây phong nằm ở trên đồi như ngọn hải đăng trên núi.

– Ai đến làng cũng đều thấy chúng trước tiên ⇒ Là dấu hiệu để nhận ra làng.

⇒ Phép so sánh chỉ giá trị tín nhiệm của hai cây phong. Khẳng định giá trị không thể thiếu đối với những người đi xa, thể hiện niềm tự hào về hai cây phong.

– Hai cây phong ấy cũng có tiếng nói riêng, tâm hồn riêng: tiếng rì rào nhiều cung bậc khác nhau.

– Hai cây phong gắn bó với sự sống, với con người: nơi giúp bọn trẻ thấy một “thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng”, nhìn ra vẻ đẹp mới và khơi gợi khát vọng khám phá miền đất lạ.

– Hai cây phong là nhân chứng cho hành động và tình cảm của thầy Đuy-sen.

– Cảnh trèo lên hai cây phong cho ta thấy đây là nơi hội tụ niềm vui, mở rộng chân trời hiểu biết, nơi khắc ghi những biến cố của làng.

⇒ Hình ảnh hai cây phong được xem là dấu ấn của làng đã in sâu vào trong trái tim, khối óc và trở thành một phần máu thịt của người đi xa.

Xác Định Xuất Xứ Hàng Hóa Xuất Khẩu Theo Quy Định Của Luật Thương Mại

Nhà đầu tư hỏi: Theo quy định của pháp luật Việt Nam, xuất xứ hàng hóa được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 7 và Điều 8, Nghị định 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 2 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về xuất xứ hàng hóa, việc xác định xuất xứ hàng hóa được thực hiện theo hai nguyên tắc sau:

+ Xác định hàng hóa có xuất xứ thuần túy: Hàng hoá có xuất xứ thuần tuý được công nhận có xuất xứ từ một quốc gia, vùng lãnh thổ khi thuộc một trong các trường hợp sau:

(i) Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được thu hoạch tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó;

(ii) Động vật sống được sinh ra và nuôi dưỡng tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó;

(iii) Các sản phẩm từ động vật sống nêu trên;

(iv) Các sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm hoặc săn bắt tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó;

(v) Các khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên, được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó;

(vi) Các sản phẩm lấy từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia, vùng lãnh thổ, với điều kiện quốc gia, vùng lãnh thổ đó có quyền khai thác đối với vùng nước, đáy biển và dưới đáy biển theo luật pháp quốc tế;

(vii) Các sản phẩm đánh bắt và các hải sản khác đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu được đăng ký với quốc gia đó và được phép treo cờ của quốc gia đó;

(viii) Các sản phẩm được chế biến hoặc được sản xuất ngay trên tàu từ các sản phẩm nêu trên được đăng ký ở quốc gia, vùng lãnh thổ đó và được phép treo cờ của quốc gia, vùng lãnh thổ đó;

(ix) Các vật phẩm có được ở quốc gia, vùng lãnh thổ đó hiện không còn thực hiện được những chức năng ban đầu và cũng không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên liệu, vật liệu thô, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế;

(x) Các hàng hoá có được hoặc được sản xuất từ các sản phẩm nêu trên ở quốc gia, vùng lãnh thổ đó.

+ Xác định hàng hóa có xuất xứ không thuần túy: Hàng hóa có xuất xứ không thuần tuý được công nhận có xuất xứ từ một quốc gia, vùng lãnh thổ khi quốc gia, vùng lãnh thổ đó thực hiện cộng đoạn chế biến cơ bản cuối cùng làm thay đổi cơ bản hàng hóa này.

Quý Khách hàng nếu cần tư vấn, giải đáp chi tiết hơn cũng như cách thức tiếp cận dịch vụ này, vui lòng liên hệ trực tiếp với Phó giám đốc phụ trách kinh doanh: Luật sư: Nhật Nam qua hotline: 0912.35.65.75, gọi điện đến Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí: 1900 6575 hoặc gửi yêu cầu dịch vụ qua email: lienheluathongbang@gmail.com.

Chúc Quý Khách hàng cùng gia đình mạnh khỏe, an lạc và thành công!

Trân trọng!

Công ty Luật Hồng Bàng./.

Văn Bản Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Văn Bản Pháp Luật?

Văn bản pháp luật là gì? Khái niệm văn bản pháp luật? Đặc điểm của văn bản pháp luật. Văn bản pháp luật là những hình thức pháp luật sử dụng trong công tác quản lý kinh tế, xã hội.

Luật ban hành văn bản pháp luật năm 2015.

Thực tế hiện nay thì chúng ta có thể tìm hiểu và thấy có rất nhiều quan điểm về khái niệm của văn bản pháp luật. Tuy nhiên thì ta có thể định nghĩa văn bản pháp luật theo cách thức như sau đó là: Văn bản pháp luật được hiểu là do những chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ban hành ra theo đúng như trình tự cũng như thủ tục và hình thức được pháp luật quy định. Nội dung của văn bản pháp luật mang thể hiện rõ về ý chí của cơ quan nhà nước, mang tính bắt buộc chung và những ý chí này sẽ được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực của nhà nước.

Trong các văn bản pháp luật thì sẽ có thể bao hàm cả ba nhóm văn bản đó là văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật. Mỗi một nhóm được quy định trong hệ thống của văn bản pháp luật còn thể hiện về một số nét đặc thù riêng về nội dung, cũng như về tính chất và nội dung vai trò trong quản lí nhà nước.

Văn bản quy phạm pháp luật về nội dung luôn chứa đựng các quy phạm pháp luật mà ở đây ý chí của các văn bản quy phạm pháp luật này sẽ được áp dụng đi lại nhiều lần trong thực tiễn. Văn bản quy phạm pháp luật được xem là cơ sở tiền đề để ban hành ra các văn bản áp dụng pháp luật và các văn bản hành chính.

Văn bản áp dụng pháp luật thì sẽ có chứa đựng về nội dung của những mệnh lệnh mang tính chất cá biệt, được áp dụng một lần duy nhất đối với một trường hợp đã có nội dung cụ thể.

Văn bản hành chính thì đảm bảo về việc sẽ có chứa đựng các quy tắc xử sự chung mang tính chất đặc thù về mặt pháp lý hoặc đó là những mệnh lệnh mang tính chất cá biệt được ban hành nhằm mục đích để tổ chức việc thực hiện về nội dung các văn bản quy phạm pháp luật cũng như văn bản áp dụng pháp luật.

Từ những điều trên có thể thấy rằng định nghĩa về văn bản pháp luật được đảm bảo có cơ sở pháp lý, đầy đủ về mặt lý luận cũng như trên phương diện về mặt thực tiễn. Như kể đến đó là về pháp lý thì văn bản pháp luật sẽ đặt ra về việc được pháp luật quy định về các trường hợp sử dụng, cũng như về hình thức văn bản, về thẩm quyền, về thủ tục ban hành, về thời hạn, cũng như đó là về việc bàn đến trách nhiệm thi hành.

2. Đặc điểm của văn bản pháp luật

Thứ nhất, đó là văn bản pháp luật có thể được xác lập bằng các ngôn ngữ viết. Đối với hoạt động quản lý nhà nước thì để đảm bảo được việc hoạt động hiệu quả của việc quản lý được cao nhất thì việc cơ quan nhà nước ban hành ra các văn bản pháp luật mà có nội dung đầy đủ được thể hiện cụ thể bằng ngôn ngữ viết được xem là một lựa chọn tối ưu nhất. Đặc biệt ở đây việc thể hiện bằng ngôn ngữ viết đối với những vấn đề được xác định là quan trọng và nội dung yêu cầu phải đề ra những nguyên tắc cụ thể chi tiết về mặt nội dung.

Việc thực hiện các văn bản pháp luật có đầy đủ nội dung về mặt ngôn ngữ viết được xem là một cách thức giúp cho chủ thể quản lý được thể hiện một cách rõ nét, mạch lạc toàn bộ các ý chí của mình cũng như đầy đủ nhất về vấn đề đang phát sinh trong công tác quản lý nhà nước. Các thức thể hiện bằng ngôn ngữ viết đặt ra giúp cho việc truyền tải nội dung, tiếp cận, lưu trữ thông tin được tốt nhất phục vụ hoạt động quản lý. Ngoài được xác lập bằng ngôn ngữ viết thì văn bản pháp luật còn được thể hiện bằng hình thức khác như ngôn ngữ nói hoặc bằng hành động.

Thứ hại, văn bản pháp luật có nội dung thể hiện đó là về mặt ý chí của các chủ thể ban hành nhằm hoàn thiện được mục tiêu quản lý. Ý chí của các chủ thể ban hành được đảm bảo thể hiện bằng các nội dung của văn bản pháp luật. Do đây là ý chí của các chủ thể đưa ra ban hành nên các văn bản pháp luật luôn được xác lập một các đơn giản nhất từ các nhận thức mang tính chất chủ quan của những cán bộ ban hành trong khối công chức nhà nước.

Thứ ba, các văn bản pháp luật được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền. Thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật có thể xem là một dấu hiệu đầu tiên để nhận biết một văn bản pháp luật. Mỗi một cơ quan khác nhau, được các cấp chính quyền khác nhau sẽ có chức năng cũng như về mặt nhiệm vụ khác nhau. Mỗi văn bản sẽ có một giới hạn cũng như phạm vi ảnh hưởng nhất định.

Chính vì vậy nên mỗi cơ quan quyền lực nhà nước sẽ chỉ được ban hành trong một phạm vi, cũng như trong một lĩnh vực do mình quản lý. Ngoài ra thì có thể nhận thấy rằng văn bản pháp luật cũng quy định về thẩm quyền ban hành như thủ trưởng một số đơn vị trực thuộc các cơ quan nhà nước hay một số công chức khác của cơ quan nhà nước, hay người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hoặc các cá nhân mà được ủy quyền quản lý nhà nước đối với một số công việc cụ thể cũng có quyền ban hành.

Thứ sáu, các văn bản pháp luật được ban hành ra theo một thủ tục do pháp luật quy định. Hiện nay theo quy định của pháp luật thì mỗi một loại văn bản sẽ có thủ tục ban hành cụ thể. Về thủ tục ban hành về các văn bản pháp luật sẽ được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật ví dụ như luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hay luật khiếu nại tố cáo…

Về các quy định này thì nhìn chung đều sẽ bao gồm các hoạt động mang tính chất chuyên môn, nghiệp vụ có vai trò trợ giúp cho các chủ thể trong quá trình soạn thảo, ban hành cũng như trong việc kiểm tra, phối hợp, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền đối với hoạt động ban hành pháp luật để đảm bảo tránh việc thực hiện một cách tùy tiện, cũng như thiếu tính trách nhiệm của các chủ thể quản lý nhà nước.