Top 3 # Ý Nghĩa Của Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Văn Bản: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

+ Ngô Thì Chí (1753 – 1788) làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống.

+ Ngô Thì Du (1772 – 1840) làm quan dưới triều Nguyễn.

Tin quân Thanh kéo vào Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về núi Tam Điệp. Ngày 25 tháng Chạp năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua (hiệu là Quang Trung) ở Phú Xuân, tự mình đốc suất lại binh để chuẩn bị tiến quân ra Bắc diệt Thanh.

Dọc đường vua Quang Trung cho tuyển thêm lính, mở cuộc duyệt binh lớn và chia quân thành các ngả để tiến ra Bắc. Ra chỉ dụ tướng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng Chạp, hẹn đến ngày mồng 7 Tết thắng lợi sẽ mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long.

Đội quân của Quang Trung đánh đến đâu thắng đến đó khiến quân Thanh đại bại. Rạng sáng ngày mồng 3 Tết, nghĩa quân đã tiến vào Thăng Long, bí mật bao vây đồn Hạ Hồi, dùng mưu để quân giặc đầu hàng và hạ đồn một cách dễ dàng.

Ngày mồng 5 Tết, nghĩa quân tiến vào công đồn Ngọc Hồi. Quân giặc chống trả quyết liệt, cuối cùng phải chịu đầu hàng, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến trốn chạy theo.

– Phần một: Từ đầu đến ” năm Mậu thân 1788″: Tin quân Thanh đã chiếm thành Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, thân chinh cầm quân dẹp giặc.

– Phần hai: Tiế theo đến ” kéo vào thành”: Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của nghĩa quân Tây Sơn.

– Phần ba: Còn lại: Sự đại bại của quân Thanh và số phận thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

II. Trọng tâm kiến thức

+ Vua Quang Trung đã khẳng định chủ quyền dân tộc: ” Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng… Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta “.

+ Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Lân và Sở, ta thấy: ông rất hiểu tình thế buộc phải rút quân để bảo toàn lực lượng của hai vị tướng này. Đúng ra thì ” quân thua chém tướng “. Nhưng ông hiểu lòng họ, sức ít không thể địch nổi quân hùng tướng hổ nhà Thanh.

+ Đối với Ngô Thì Nhậm, ông hiểu tường tận năng lực, khả năng ” đa mưu túc trí ” của vị quân sĩ này. Việc Lân và Sở rút chạy, Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao sau này.

– Đang lo việc đánh giặc, Quang Trung đã tính sẵn cả kế hoạch sau chiến thắng (kế hoạch cho mười năm sau), tìm cách ngoại giao với giặc để có thể dẹp ” việc binh đao“, ” cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng “,…

+ Ngày 25 tháng Chạp bắt đầu xuất quân từ Phú Xuân (Huế).

+ Vượt khoảng 350 km đường đèo, núi, đến ngày 29 đã tới Nghệ An.

+ Tổ chức tuyển quân, duyệt binh chỉ trong một ngày.

+ Ngay hôm sau, vượt khoảng 150 km, tiến ra Tam Điệp.

+ Đêm 30 tháng Chạp ” lập tức lên đường ” tiến thẳng Thăng Long. Vừa hành quân vừa đánh giặc và giữ bí mật đến bất ngờ.

+ Ở trận Hạ Hồi, bằng chiến thuật nghi binh đã giúp nghĩa quân chiến thắng vẻ vang mà không tốn một hòm tên, mũi đạn.

+ Ở trận Ngọc Hồi, cho quân làm những tấm ván ghép, bên ngoài phủ rơm dấp nước nên binh lính tiến sát đồn mà không bị đạn hỏa công.

– Đối lập với hình ảnh của nghĩa quân Tây Sơn:

+ Tướng Tôn Sĩ Nghị: ” sợ mất mật, ngựa không còn kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng Bắc mà chạy “; Sầm Nghi Đống thì thắt cổ tự tử.

+ Quân ” đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều… đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa “.

– Cả một đội binh hùng tướng mạnh mấy chục vạn người diễu võ dương oai giờ đây chỉ còn biết tháo chạy ” đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi “.

– Nguyên nhân của sự thất bại:

– Họ không còn tư cách của bậc quân vương mà phải chịu số phận nhục nhã của kẻ cầu cạnh, van xin và kết cục chịu chung số phận thảm hại của kẻ vong quốc: Lê Chiêu Thống cũng vội vã cùng kẻ thân tín chạy bán sống, bán chết, ” luôn mấy ngày không ăn, ai nấy đều mệt lử“, chỉ biết ” nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt “.

– Hoàng Lê nhất thống chí lựa chọn trình tự kể theo diễn biến của các sự kiện lịch sử.

– Khắc họa nhân vật lịch sử với ngôn ngữ kể, tả chân thực, sinh động.

– Giọng điệu trần thuật thể hiện thái độ của tác giả với vương triều Lê, với chiến thắng của nhân dân, dân tộc với bọn cướp nước.

Phân Tích Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí

Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn phân tích văn bản Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn tiểu thuyết chương hồi ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng của xã hội phong kiến Việt Nam ba mươi năm cuối của thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX. Các tác giả Ngô Gia Văn Phái không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử tiêu biểu mà còn dựng lên được bức chân dung về người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ. Hình tượng này được thể hiện …

Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn phân tích văn bản Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái

Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn tiểu thuyết chương hồi ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng của xã hội phong kiến Việt Nam ba mươi năm cuối của thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX. Các tác giả Ngô Gia Văn Phái không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử tiêu biểu mà còn dựng lên được bức chân dung về người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ. Hình tượng này được thể hiện một cách sắc nét thông qua hồi mười bốn của tác phẩm.

Ngô Gia Văn Phái đã tái hiện và điển hình hóa nhân vật lịch sử Quang Trung Nguyễn Huệ thành một biểu tượng anh hùng, có công lao lớn đối với đất nước. Trước hết, Nguyễn Huệ hiện lên là một con người mạnh mẽ, quyết đoán, xông xáo, nhanh gọn có chủ đích. Ngay khi nghe tin quân Thanh tấn công vào miền Bắc của nước ta, Nguyễn Huệ đã nhận định được mối nguy hại của quân thanh và sự cấp thiết của việc đánh đuổi nên ông đã quyết định lên ngôi hoàng đế và thân chinh dẫn quân ra Bắc.

Quang Trung Nguyễn Huệ là một vị tướng tài ba, có tài thao lược, ông đích thân đốc thúc đại quân, trực tiếp lãnh đạo cuộc tấn công ra Bắc. không chỉ vậy,Nguyễn Huệ còn là một người biết trọng dụng hiền tài. Trước quyết định tấn công ra Bắc, ông đã cho mời vào dinh La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, một người nổi tiếng học rộng tài cao lúc bấy giờ. Hành động này của Quang Trung cho ta thấy ông là một vị minh quân sáng suốt, mặc dù nắm trong tay quyền quyết định nhưng ông vẫn đặt việc trọng đại của đất nước lên trên hết.

Lời khẳng định của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng đã thể hiện được sự sáng suốt cũng như khả năng chiến thắng của toàn quân: “…Bây giờ trong nước trống không, lòng người tann rã. Quân Thanh ở xa tới đây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh hay nên giữ ra sao. Chúa công ra đi chuyến này, không quá mười ngày, quân thanh sẽ bị dẹp tan”.

Xuất thân từ nhà tướng, Nguyễn Huệ vô cùng linh hoạt trong vệc tổ chức binh lính, từ việc chiêu mộ quân, mở những cuộc duyệt binh lớn ở các doanh trấn, bố chí quân đội thành bốn doanh chính: tiền, hậu,tả, hữu còn những binh lính mới chiêu mộ thì làm trung quân. Qua việc tổ chức quân ta có thể thấy Quang Trung Nguyễn Huệ là một vị tướng tài ba, bố trí binh lính quy củ, có tổ chức, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa đến thắng lợi vang dội trước hai mươi vạn quân Thanh.

Trước cuộc hành quân, để động viên tinh thần chiến đấu của binh lính, Nguyễn Huệ đã đưa ra chỉ dụ trước toàn binh lính, ông nói về âm mưu cùng thủ đoạn thâm độc của quân nhà Thanh,nêu ra những tấm gương chống giặc lừng lẫy trong lịch sử từ đó đưa ra lời động viên, dăn đe những binh lính chưa có tinh thần, ý chí đánh giặc: “…Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi…Các người đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như ta phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo ta không nói trước”.

Mưu lược hơn người của Quang Trung Nguyễn Huệ còn thể hiện ở cuộc tiến công thần tốc ra Bắc cùng chiến thuật tinh vi trong cuộc tấn công quân Thanh ở Ngọc Hồi. Trong cuộc chiến, vua Quang Trung đã cho người lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, quân Thanh quá hoảng loạn trước sự xuất hiện bất ngờ cùng sức mạnh của quân ta mà dẫm đạp lên nhau chạy về nước, đại quân toàn thắng.

Không chỉ xây dựng hình ảnh người anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ mà các tác giả nhà Ngô Gia Văn Phái còn tái hiện lại sinh động tình cảnh thảm hại,nhục nhã của lũ cướp nước Tôn Sĩ Nghị và vua tôi Lê Chiêu Thống. Chúng vẫn luôn chủ quan về sự hùng mạnh của đội quân mình mà không ngờ được sức công phá khủng khiếp của quân ta, thất bại ở Ngọc Hồi khiến chúng sợ hãi mà chạy về nước, vua tôi Lê Chiêu Thống để bảo toàn tính mạng cũng chạy theo thuyền cá về phía Bắc lẩn trốn.

Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, đặc biệt là hồi mười bốn Đánh Ngọc Hồi, quân thanh thua trận, bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài, tác giả Ngô Gia Văn Phái đã dựng lên được không khí ác liệt mà không kém phần hào hùng của dân tộc ta trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, cùng với đó là sự ca ngợi chiến thắng của vua Quang Trung.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM

HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

HOANG LE NHAT THONG CHI

NGÔ GIA VĂN PHÁI

LÊ CHIÊU THỐNG

Đọc Hiểu Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí

I- TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả:

Tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô gia văn phái, một tập thể tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Hai tác giả chính là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du.

– Ngô Thì Chí (1753-1788) là em ruột Ngô Thì Nhậm, từng làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống. Ông tuyệt đối trung thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, dâng Trung hưng sách bàn kế khôi phục nhà Lê. Sau đó ông được Lê Chiêu Thống cử đi Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lưu vong, lập nghĩa binh chống Tây Sơn, nhưng trên đường đi ông bị bệnh, mất tại huyện Gia Bình (Bắc Ninh). Nhiều tài liệu nói ông viết bảy hồi đầu của tác phẩm.

– Ngô Thì Du (1772-1840) là anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nhưng không đỗ đạt gì. Dưới triều Tây Sơn, ông ẩn mình ở vùng Kim Bảng (Hà Nam). Thời nhà Nguyễn, ông ra làm quan, được bổ Đốc học Hải Dương, đến năm 1827 thì về nghỉ. Ông là tác giả bảy hồi tiếp theo của Hoàng Lê nhất thống chí.

2. Tác phẩm:

Văn bản bài học được trích từ Hồi 14  tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn phái  tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung  Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhưng Hoàng Lê nhất thống chí (biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của quân xâm lược cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nước.

3. Thể loại:

– Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn sách viết theo thể chí (một thể văn vừa có tính chất văn học vừa có tính chất lịch sử), ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê, vào thời điểm anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lãnh đạo nông dân Tây Sơn nổi dậy khởi nghĩa, tiêu diệt nhà Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. ý nghĩa tiêu đề của tác phẩm là như thế nhưng sau khi vua Lê dành lại được quyền thế từ tay chúa Trịnh, rất nhiều biến cố lịch sử đã diễn ra, trong đó có cuộc tấn công thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn, dưới sự thống lĩnh của vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) đánh tan hai mươi vạn quân Thanh xâm lược. Tất cả đã được ghi chép lại một cách khá đầy đủ và khách quan trong tác phẩm.

4. Tóm tắt:

Được tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vương rất giận, liền họp các tướng sĩ rồi tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc, thân hành cầm quân, vừa đi vừa tuyển quân lính. Ngày ba mươi tháng chạp, đến núi Tam Điệp, vua mở tiệc khao quân, hẹn mùng bảy năm mới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Bằng tài chỉ huy thao lược của Quang Trung, đạo quân của Tây Sơn tiến lên như vũ bão, quân giặc thua chạy tán loạn. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, chuồn thẳng về biên giới phía Bắc, khiến tên vua bù nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy tháo thân.

II – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Một nhân tố quan trọng cần phải xem xét trước hết trong văn bản này là tác giả. Khi sáng tạo tác phẩm, tác giả không chỉ tái hiện hiện thực khách quan mà còn thể hiện những tư tưởng, tình cảm, quan điểm chính trị, xã hội… của mình. Tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô gia văn phái  một nhóm tác giả rất trung thành với nhà Lê. Nếu xét theo quan điểm phong kiến thì trong con mắt của Ngô gia, vua Quang Trung là kẻ nghịch tặc. Thế nhưng trong tác phẩm, hình ảnh Quang Trung  Nguyễn Huệ lại được miêu tả khá sắc nét với tài cầm quân “bách chiến bách thắng”, tính quyết đoán cùng nhiều phẩm chất tốt đẹp khác. Điều đó một phần bởi triều đại nhà Lê khi đó đã quá suy yếu, mục nát, dù có là bề tôi trung thành đến mấy thì các tác giả trong Ngô gia văn phái cũng khó có thể phủ nhận. Mặt khác, có thể chính tài năng và đức độ của vua Quang Trung đã khiến cho các tác giả này thay đổi quan điểm của mình, từ đó đã tái hiện lại các sự kiện, nhân vật,… một cách chân thực.

Cách ăn nói của vua Quang Trung cũng rất có sức thuyết phục, vừa khéo léo, mềm mỏng vừa rất kiên quyết, hợp tình hợp lí. Khi nói với binh sĩ, ông đã cho họ ngồi (một cử chỉ biểu lộ sự gần gũi mặc dù ông đã xưng vương), từng lời nói đều giản dị, dễ hiểu. Sau khi lấy lịch sử từ các triều đại trước ra để cho binh sĩ thấy nỗi khổ của nhân dân dưới ách thống trị ngoại bang, ông không quên tuyên bố sẽ trừng phạt những kẻ phản bội, ăn ở hai lòng. Điều đó khiến cho binh sĩ thêm đồng lòng, quyết tâm chống giặc.

Đó cũng là cách ứng xử của ông đối với các tướng lĩnh. Khi quân đến Tam Điệp, hai tướng Sở và Lân mang gươm trên lưng đến xin chịu tội, ông thẳng thắn chỉ ra tội của họ nhưng lại cho mọi người hiểu họ cũng là người đã có công lớn trong việc bảo toàn được lực lượng, chờ đợi thời cơ  điều đó không những khiến cho quân ta tránh được những thương vong vô ích mà còn làm cho giặc trở nên kiêu ngạo, chủ quan, tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh chúng sau này.

Những lời nói, việc làm của vua Quang Trung thật hợp tình, hợp lí và trên hết là hợp với lòng người. Vừa mềm dẻo vừa kiên quyết, xét đúng công, đúng tội, đặt lợi ích của quốc gia và của dân chúng lên trên hết, ông đã khiến cho binh sĩ thêm cảm phục, càng quyết tâm chống giặc. Đó là một yếu tố rất quan trọng tạo nên những chiến thắng liên tiếp của quân Tây Sơn dưới sự thống lĩnh của vua Quang Trung.

Cuộc tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung thực sự chỉ có thể diễn tả bằng từ “thần tốc”. ở phần tiếp theo của đoạn trích, để diễn tả không khí chiến trận rất khẩn trương, quyết liệt, các tác giả đã chú trọng nhiều hơn đến các sự kiện nhưng không vì thế mà làm mờ nhạt hình ảnh tài năng của vị thống lĩnh. Lời hứa chắc chắn trước lúc xuất quân của ông đã được đảm bảo bằng tài thao lược, xử trí hết sức nhạy bén, mưu trí trong những tình huống cụ thể: đảm bảo bí mật hành quân, nghi binh tấn công làng Hà Hồi, dùng ván phủ rơm ướt để tấn công đồn Ngọc Hồi,… Tài dùng binh khôn khéo đó khiến cho quân Thanh hoàn toàn bị bất ngờ, khi chúng biết được tin tức thì đã không thể chống cự lại được nữa, chỉ còn cách dẫm đạp lên nhau mà chạy.

Phần cuối của đoạn trích chủ yếu diễn tả cuộc tháo chạy hỗn loạn, nhục nhã của đám quan quân nhà Thanh. Ra đi “binh hùng tướng mạnh”, vậy mà chưa đánh được trận nào đã phải tan tác về nước. Rất có thể sau khi bại trận, quân số của Tôn Sĩ Nghị (trước đó là hai mươi vạn) vẫn còn đông hơn quân của vua Quang Trung nhưng trước sức tấn công như vũ bão của quân Tây Sơn, dưới sự chỉ huy của một vị tướng tài ba và quyết đoán, chúng đã không còn hồn vía nào để nghĩ đến chuyện chống trả.

Trong đoạn này, giọng điệu của các tác giả tỏ ra vô cùng hả hê, vui sướng. Khi miêu tả tài “xuất quỷ nhập thần” của quân Tây Sơn, các tác giả viết: “Thật là: “Tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên”…

Ngược lại, khi viết về Tôn Sĩ Nghị thì: “Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp…”. Đó không còn là giọng của một người ghi chép lại các sự kiện một cách khách quan mà là giọng điệu sảng khoái của nhân dân, của dân tộc sau khi đã khiến cho bọn xâm lược ngoại bang, vốn trước ngạo nghễ là thế, giờ đây phải rút chạy nhục nhã.

Đoạn nói về vua tôi nhà Lê càng khẳng định thái độ của các tác giả khi viết tác phẩm này. Mặc dù luôn đề cao tư tưởng trung nghĩa nhưng trước sự nhu nhược, hèn hạ của đám vua tôi nhà Lê, các tác giả vẫn thể hiện ít nhiều thái độ mỉa mai, châm biếm. Số phận những kẻ phản dân, hại nước cũng thảm hại chẳng kém gì những kẻ cậy đông, đem quân đi xâm lược nước khác. Đó là số phận chung mà lịch sử giành cho lũ bán nước và lúc cướp nước.

Cuộc đại phá quân Thanh xâm lược là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Người làm nên kì tích ấy là Quang Trung  Nguyễn Huệ, vị “anh hùng áo vải” vừa có tài thao lược vừa luôn hết lòng vì dân, vì nước.

Trang sử hào hùng ấy đã được ghi lại bởi Ngô gia văn phái  nhóm tác giả đã vượt qua những tư tưởng phong kiến cố hữu để tái hiện lại lịch sử một cách chân thực.

(Sưu tầm)

Đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí

“Hoàng Lê nhất thống chí” là tiểu thuyết lịch sử chương hồi nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam thời kỳ trung đại mà có lẽ là ai yêu văn chương và có quan tâm đến lịch sử đều biết. “Hoàng Lê nhất thống chí” đã được dạy trong nhà trường phổ thông từ xưa đến nay. Qua mấy lần cải cách sách giáo khoa, bây giờ “Hoàng Lê nhất thống chí” được dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 9.

“Hoàng Lê nhất thống chí” có nghĩa là cuốn sách ghi chép về sự nhất thống của nhà Lê. Từ “chí” trong tiếng Hán có nghĩa là ghi chép, miêu tả. Tác phẩm được viết vào nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, gồm 17 hồi. “Hoàng Lê nhất thống chí” còn có những tên gọi khác là “Nhất thống chí” và “An Nam nhất thống chí” nhưng hai tên sau không mấy phổ biến.

Như vậy, ở buổi khởi đầu, “chí” được dùng để chỉ những tác phẩm lịch sử hay địa lý. Về sau, nó còn được dùng để chỉ những cuốn tiểu thuyết mang tính chất lịch sử. Ở Trung Quốc như đã nói có bộ sử “Tam quốc chí”, nhưng cũng có tác phẩm văn học như “Tống chí truyện” hay “Tam quốc chí” của La Quán Trung. Ở Việt Nam, ngoài “Hoàng Lê nhất thống chí”, còn có thể kể đến cuốn sách miêu tả lịch sử Việt Nam là “Việt Nam thế chí” của tác giả Hồ Tông Thốc, hay cuốn sách miêu tả địa lý miền Đại Nam là “Đại Nam nhất thống chí”.

Nếu so sánh với Trung Quốc thì quả thật Việt Nam không có những “danh tác” hay “kỳ thư” kiểu như “Đông Chu liệt quốc” hay “Tam quốc diễn nghĩa”. Nhưng “Hoàng Lê nhất thống chí” là cuốn tiểu thuyết chương hồi mang tính chất lịch sử được đánh giá rất cao và rất nổi tiếng.

Tác giả của “Hoàng Lê nhất thống chí” là nhiều danh gia nhà họ Ngô Thì, nên được gọi là “Ngô gia văn phái”. Ngày nay nhiều nhà văn bản học xác định 4 tác giả chính của bộ tiểu thuyết này là những tên tuổi: Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Thiến. Trong đó tên tuổi của Ngô Thì Chí và Ngô Thì Nhậm vốn rất quen thuộc với các bạn nào hay đọc sách sử.

Ngoài ra, thời kỳ phong kiến ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử có giá trị, tuy nhiên không được biết đến nhiều như “Hoàng Lê nhất thống chí”. Có thể kể đến những cuốn như “Thiên Nam liệt truyện Nguyễn Cảnh thị Hoan Châu ký”, “Nam triều công nghiệp diễn chí”, Hoàng Việt long hưng chí”…

“Hoàng Lê nhất thống chí” thật ra là một bộ tiểu thuyết rất hấp dẫn đối với những ai quen với lối viết kiểu tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc. Nhà Đông phương học người Nga nổi tiếng thế giới là B.L.Riftin đã có hẳn một bài viết đánh giá cao tác phẩm này. Đó là bài viết “Hoàng Lê nhất thống chí và tiểu thuyết chương hồi Viễn Đông”. Ông cho rằng cái hay, cái độc đáo, cái vượt trội của “Hoàng Lê nhất thống chí” so với những tiểu thuyết cùng kiểu ở Trung Quốc hay Triều Tiên chính là ở chỗ các tác giả của họ Ngô Thì đã xây dựng được một cuốn tiểu thuyết về những sự kiện chính trị, lịch sử của ngay thời đại mà họ đang sống, tức là những năm cuối thế kỷ XVIII đầy biến động và đến khi Gia Long lên ngôi. Đây là điều rất hiếm thấy. Điều này cho thấy cảm quan lịch sử cũng như ngòi bút sáng tạo nghệ thuật tinh nhạy của các văn gia họ Ngô Thì.

So sánh với những tác phẩm khác, chúng ta thấy: La Quán Trung viết “Tam quốc chí” khoảng 1000 năm sau thời Tam quốc. “Tống chí truyện” có nội dung nói về nhà Tống thì được viết vào thời Minh. “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoy với rất nhiều trường đoạn miêu tả chiến tranh chỉ ra đời sau khi những sự kiện đó qua đi hơn nửa thế kỷ. Còn “Hoàng Lê nhất thống chí” ra đời ngay trong thời đại mà tác phẩm miêu tả.

“Hoàng Lê nhất thống chí” đáng được ca ngợi trên những phương diện sau:

“Hoàng Lê nhất thống chí” vừa là sử học, vừa là văn học. Tác phẩm vừa trình bày những sự kiện lịch sử có thật, vừa có sự sáng tạo nghệ thuật trong đấy. Tác phẩm ghi lại chân thực, chính xác về những con người thật, những việc thật, thời gian, thời điểm, nơi chốn xảy ra sự kiện, nhưng đồng thời tác phẩm cũng dã làm tròn nghĩa vụ trong việc khám phá các mối quan hệ giữa con người với con người (đặc biệt là những con người có thật), chọn lọc các chi tiết, tình tiết đắt giá, tập trung xây dựng những tính cách nhân vật nổi bật.

Về nội dung, tác phẩm tập trung khắc họa những ngày cuối của chế độ phong kiến Lê – Trịnh cũng như cuộc khởi nghĩa của phong trào Tây Sơn mà đỉnh cao là chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung. Tác phẩm cũng nói về sự nhất thống của nhà Nguyễn với sự lên ngôi của Gia Long. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy bão giông của đất nước. Nhiều cơ hội đã bị bỏ qua, nhiều trận chiến đã xảy đến, nhiều gương mặt độc đáo xuất hiện trong lịch sử, từ vua cho đến quan, cho đến dân…

Bút pháp tác phẩm cực kỳ đa dạng, học được nhiều từ truyền thống “bao biếm” của các sử gia phương Đông, lúc hài hước sâu cay, lúc nhẹ nhàng, phóng khoáng, thậm chí có lúc mang tính chất anh hùng ca.

Hình tượng nhân vật được xây dựng cực kỳ thành công, độc đáo, dù chỉ qua một, hai chi tiết miêu tả. Trịnh Sâm cuối đời thành kẻ lụy tình; Tuyên phi Đặng Thị Huệ lẳng lơ xảo trá, khéo dùng sắc đẹp che mắt chúa; Thế tử Tông thèm khát cơ nghiệp tổ tiên nhưng trí óc và hành động không hơn một con rối; Nguyễn Hữu Chỉnh có nét gian hùng như Tào Tháo; Dương Trọng Tế nhát chết nhưng to miệng; Ngô Thì Nhậm cương quyết dám nghĩ dám làm; Nguyễn Huệ thông minh, oai vệ, vũ dũng, nhưng vẫn phảng phất nét thô lỗ kiểu nông dân áo vải; Nguyễn Nhạc mộc mạc; Lê Chiêu Thống đớn hèn…

Một câu hỏi do các nhà nghiên cứu văn học đặt ra nhiều thập kỷ qua là Ngô Thì Nhậm có viết “Hoàng Lê nhất thống chí” hay không? Công lao của Ngô Thì Nhậm đối với nhà Tây Sơn thì đã quá rõ ràng, còn công lao của ông với văn học thì sao?

Chuyện những ai là tác giả của “Hoàng Lê nhất thống chí” là một chuyện tranh luận nhiều năm qua, thu hút nhiều nhà nghiên cứu sử học và văn học, trong đó chủ yếu dựa vào những cứ liệu văn bản học để đoán định và kết quả cuối cùng là chưa đi đến được kết luận nào. Thế nên, người ta chỉ nhắc đến các tác giả của “Hoàng Lê nhất thống chí” dưới một cái tên gọi chung là “Ngô gia văn phái”. Văn bản học ở đây là một ngành khoa học trong văn học, ngôn ngữ học, nghiên cứu các tác phẩm, tác giả nhằm tái tạo lại bản gốc của tác phẩm, hoặc tìm ra tác giả đích thực của tác phẩm.

Hiện nay đã thống kê được 14 dị bản “Hoàng Lê nhất thống chí”, trong đó có 7 bản còn đủ 17 hồi; 3 bản cũng còn đủ 17 hồi nhưng đã thất lạc văn bản; 4 dị bản không còn đủ 17 hồi. Trong đó nhiều dị bản ghi tác giả là “Ngô gia văn phái”. Cũng có dị bản ghi tác giả là Ngô Thì Chí, có dị bản ghi tác giả là Ngô Thì Thiến và nhiều dị bản không ghi tác giả. “Dị bản” là một thuật ngữ quen thuộc trong ngành văn bản học, dùng để chỉ các bản in, bản thảo… khác nhau của cùng một tác phẩm, có thể có nội dung không trùng khớp với nhau ở một vài hay nhiều chi tiết. So sánh, đối chiếu các dị bản với nhau có thể giúp tìm ra một văn bản gần với bản gốc nhất của tác phẩm. Nói tác giả là Ngô Thì Chí, thì có bản “Ngô gia thế phả” (tức là gia phả của dòng họ Ngô Thì); Phạm Đình Hổ trong “Vũ trung tùy bút”, Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí”. Nhiều nhà nghiên cứu có chung quan điểm cho rằng người viết phần đầu “Hoàng Lê nhất thống chí” là Ngô Thì Chí như Ngô Tất Tố, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Văn Hoàn, Emile Gaspardonne, B.L. Riftin. Nói tác giả là Ngô Thì Du, người viết tiếp Ngô Thì Chí thì có bản “Ngô gia thế phả”. Nguyễn Đức Vân và Kiều Thu Hoạch cho rằng người viết “Hoàng Lê nhất thống chí” là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du. Nói tác giả là Ngô Thì Nhậm, có sách “Đăng khoa lục sưu giảng” (không rõ tác giả) và những tên tuổi như Nguyễn Đăng Tấn, Văn Tân, Tạ Ngọc Liễn. Nói tác giả là Ngô Thì Thiến, có Nguyễn Hữu Thường.

Sau rất nhiều tranh cãi, hiện nay quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam thời kỳ trung đại cho rằng việc Ngô Thì Nhậm có tham gia viết “Hoàng Lê nhất thống chí” hay không vẫn còn là điều đáng bàn. Cuốn sách “Hoàng Lê nhất thống chí – văn bản, tác giả, nhân vật” của GS. Phạm Tú Châu ở Viện Văn học, xuất bản năm 1997 viết rất kỹ về vấn đề này.

Không có bằng cớ khoa học khẳng định chắc chắn Ngô Thì Nhậm có tham gia viết “Hoàng Lê nhất thống chí”. Ngược lại, cũng không có bằng cớ nào bác bỏ chuyện này cả. Nhưng chắc chắn một điều là khi xem xét văn bản nội dung của “Hoàng Lê nhất thống chí”, các nhà nghiên cứu đều cho rằng ít nhất nếu Ngô Thì Nhậm không tham gia viết một số chương hồi nào đó, thì những người viết khác của dòng họ Ngô Thì cũng đã sử dụng rất nhiều tài liệu, ghi chép của ông để lại. Đó chính là công lao lớn của Ngô Thì Nhậm đối với bộ “Hoàng Lê nhất thống chí”. Văn học cũng như sử học, có nhiều vấn đề chỉ có thể đoán định mà chưa tìm ra câu trả lời cuối cùng. Trường hợp các tác giả của “Hoàng Lê nhất thống chí” là như vậy.