Top 3 # Ý Nghĩa Nhan Đề Văn Bản Làng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Ý Nghĩa Nhan Đề Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân

Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Làng của Kim Lân

Ý Nghĩa nhan đề truyện ngắn Làng

Đặt tên “Làng” mà không phải là “Làng chợ Dầu” vì nếu thế thì vấn đề tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp của một làng cụ thể.

– Đặt tên là “Làng” vì truyện đã khai thác một tình cảm bao trùm, phổ biến trong con người thời kì kháng chiến chống Pháp: tình cảm với quê hương, với đất nước.

– Làng ở đây cũng chính là cái Chợ Dầu mà ông Hai yêu như máu thịt của mình, nơi ấy với ông là niềm tin, là tình yêu và niềm tự hào vô bờ bến là quê hương đất nước thu nhỏ.

– Chủ đề của tác phẩm là viết về lòng yêu nước của người nông dân – làng nơi gần gũi, gắn bó với người nông dân, người ta không thể yêu nước nếu không yêu làng

– Nhan đề Làng gợi hình ảnh người nông dân và nông thôn, đây là mảng sáng tác thành công nhất của Kim Lân

Vì vậy, nhan đề tác phẩm rất hay và giàu ý nghĩa.

Hoàn cảnh ra đời truyện ngắn Làng

Bài 1

Làng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà văn Kim Lân viết về làng quê và những người dân quê Việt Nam. Truyện ngắn được sáng tác vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và được đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Tác phẩm được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa lớp 9 ở bậc trung học.

Bài 2

Truyện ngắn “Làng” được viết năm 1948 – thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thông qua diễn biến tâm trạng của một nhân vật cụ thể (ông Hai), trong một hoàn cảnh cụ thể (đang ở nơi tản cư, nghe tin làng Chợ Dầu của ông theo giặc), tác giả đã khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người Việt Nam thời kì kháng chiến: tình cảm quê hương, đất nước. Chủ đề này không mới, nhưng nét đặc sắc của tác phẩm chính là ở chỗ nhân vật của truyện không được trực tiếp tham gia bảo vệ quê hương (ông Hai đang cùng gia đình rời làng đi tản cư trong những ngày kháng chiến), nhưng tình cảm yêu làng, yêu nước trong ông lại rất sâu sắc. Tình cảm ấy được nhà văn Kim Lân diễn tả một cách sinh động, cụ thể, vừa mang tính khái quát, trở thành tình cảm cộng đồng.

Tóm tắt nội dung truyện ngắn Làng

Ông Hai là người dân làng chợ Dầu, trong những ngày tháng giặc Pháp tràn vào làng, ông cùng gia đình tản cư đến nơi khác. Làng của ông bị người ta đồn là làng Việt gian, bán nước, nhưng trong lòng ông vẫn giữ vững niềm tin về làng của mình. Khi đã sống ở nơi tản cư, ông Hai dù không biết đọc, nhưng hằng ngày vẫn đến phòng thông tin để nghe thông tin về kháng chiến, và đặc biệt là hỏi thăm thông tin về làng chợ Dầu của ông. Khi nghe người ở nơi tản cư đồn làng ông bán nước, ông Hai đã đau khổ, bức bối vô cùng, còn có cả suy nghĩ bỏ làng, nơi tản cư cũng không cho dân làng chợ Dầu ở nữa. Nhưng may thay, tới lúc gia đình ông chuẩn bị đi nơi khác thì tin làng ông theo Tây đã được cải chính, ông Hai sung sướng, tự hào vô cùng.

Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân

Như vậy, nhan đề “Làng” vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của ông Hai, đồng thời qua cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung: tấm lòng của những người dân quê đất Việt đối với đất nước.

Ý Nghĩa Nhan Đề Tức Nước Vỡ Bờ &Amp; Tóm Tắt Văn Bản

Gợi ý giúp các em học sinh lớp 8 hiểu rõ hơn về ý nghĩa nhan đề Tức nước vỡ bờ mà tác giả dùng để đặt cho đoạn trích. Đồng thời hướng dẫn cách t óm tắt văn bản Tức nước vỡ bờ chính xác nhất. Nội dung sẽ giúp học sinh hiểu bài học ngày hôm này.

Lời giải 1

Tức nước vỡ bờ một nhan đề có sức gợi hình cao, nhan đề do chính tác giả đặt tên đã bao quát toàn bộ nội dung của đoạn trích. Nhan đề dùng chính thành ngữ của người Việt để nói lên ở đâu có áp bức ở đó có sự đấu tranh, chống cự.

Trước Cách mạng tháng 8 đối tượng nghèo đói, khổ cực nhiều nhất là người nông dân, đối tượng bị áp bức và bóc lột cũng là người nông dân. Họ là những con người hiền lành chất phác,lương thiện chăm chỉ làm lụng nhưng nếu một ngày nào đó bị áp bức quá mức đẩy đến bờ vực giữa sự sống và cái chết họ sẽ vùng dậy, đánh bại mọi thế lực áp bức.

Chị Dậu khi bị đàn áp đã vùng lên đánh lại cái lệ cùng với người nhà lí trưởng một cách quyết liệt, mạnh mẽ, “Con giun xéo lắm cũng quằn” con người khi bị đẩy đến cùng cực sẽ phản kháng, đây cũng là sức mạnh tiềm tàng của những người nông dân.

Lời giải 2

“Tức nước vỡ bờ” chỉ một nhan đề thôi cũng đủ giúp người đọc hình dung được nội dung bên trong đoạn trích. Chị Dậu đại diện cho người nông dân hiền lành, chăm chỉ làm ăn, đây là đối tượng bị áp bức trong thời gian trước CMT8. Lí trưởng và tay sai đại diện cho những kẻ áp bức, đẩy kẻ khác vào cái chết.

Khi bị đánh đập, bóc lột một cách thậm tệ con người sẽ vùng dậy đấu tranh để đòi lại sự công bằng. Ở đâu có bất công ở đó sẽ có sự đấu tranh, đây chính là quy luật mãi không thể thay đổi. Chị Dậu cũng thể hiện được sức mạnh tiềm tàng của những người nông dân xưa.

Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” nổi bật hình ảnh phản kháng đầy mạnh mẽ của chị Dậu với các thế lực thống trị, đây cũng là đoạn văn nổi bật nhất trong tác phẩm Tắt đèn.

Tóm tắt văn bản Tức nước vỡ bờ

Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” được trích từ tác phẩm “Tắt đèn” đã kể lại chuyện anh Dậu sau khi bị ngất xỉu sân đình, bọn tay sai sợ bị vạ lây nên đem anh Dậu trả về gia đình trong tình trạng thừa sống thiếu chết. Chị Dậu vô cùng đau đớn với tính mạng của chồng lúc bấy giờ.

Khi anh Dậu còn chưa kịp ăn miếng cháo thì tên cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào đòi bắt trói. Thái độ của bọn chúng chửi bới, mỉa mai rất hung hãn . Đối phó với tình huống trên chị Dậu đi từ nhún nhường, van xin đến phản kháng mãnh liệt. Ban đầu chị run run van xin, nài nỉ, chị hạ mình để bảo vệ chồng. Bọn tay sai vẫn không động lòng trước những lời van xin của chị Dậu. Sự ức hiếp của bọn chúng đã làm trỗi dậy sự phản kháng mãnh liệt của chị Dậu. Chị xám mặt lại và cách xưng hô với hành động cũng thay đổi. Hành động của chị quyết liệt và nhanh như cắt, chị nắm lấy ngay gậy của hắn, túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm.

Chị Dậu thể hiện hành động quyết liệt vừa biểu hiện tấm lòng thương chồng và sự dũng cảm và tinh thần đấu tranh quyết liệt. Những hành động trên của chị thể hiện qua tiêu đề đoạn trích “tức nước vỡ bờ”. Giá trị của đoạn trích được thể hiện rõ nét qua nhân vật chị Dậu phản kháng quyết liệt khi bị dồn đến đường cùng. Tấm lòng thương yêu chồng con và tinh thần phản kháng trước sự áp bức của các thế lực đã thể hiện rõ ràng qua đoạn trích trên.

Vừa rồi chúng tôi đã hướng dẫn học sinh hiểu ý nghĩa nhan đề Tức nước vỡ bờ và cách tóm tắt văn bản đúng cách. Văn bản Tức nước vỡ bờ nằm trong nội dung sgk ngữ văn lớp 8.

Giải Thích Nhan Đề Tác Phẩm Ngữ Văn 8 Ý Nghĩa

Giải thích nhan đề tác phẩm Ngữ văn 8 là tài liệu tham khảo hay, giúp các bạn hiểu hơn về ý nghĩa nhan đề một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 8 như: Bình Ngô đại cáo, Lão Hạc, Khi con tu hú, Thuế máu, Tức nước vỡ bờ. Hi vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn hiểu hơn về tác phẩm, từ đó học tốt môn Ngữ văn 8. I- Nhận biết câu hỏi giải thích nhan đề tác phẩm:

1- Dạng câu hỏi thứ nhất: Tại sao tác giả lại đặt nhan đề như vậy cho tác phẩm của mình?

Giới thiệu tác phẩm cần giải thích

Trình bày xuất xứ, nguồn gốc của nhan đề

Giải nghĩa các từ ngữ cần thiết.

Trình bày, phân tích các lí do tác giả đặt nhan đề cho tác phẩm (trọng tâm)

Đánh giá, nhận xét chung về cách đặt nhan đề tác phẩm .

2- Dạng câu hỏi 2: Nêu ý nghĩa nhan đề tác phẩm.

Giới thiệu nhan đề (tên tác phẩm – tác giả)

Giải nghĩa các từ ngữ cần thiết (nghĩa đen, nghĩa bóng, BB nghệ thuật…)

Trình bày mối liên hệ giữa nhan đề và nội dung, ý nghĩa của tác phẩm

Đáng giá cách đặt nhan đề .

3- Dạng câu hỏi 3: Em có suy nghĩ gì về nhan đề của tác phẩm…?

(Trả lời giống dạng câu hỏi 2)

II- BÀI TẬP ÁP DỤNG

1- Thuế máu

Viết đúng thể loại: Đoạn văn (0.5 điểm)

Giải thích được thuế là gì? (0.5 điểm)

Thuế máu là loại thuế như thế nào?

Tác giả đặt nhan đề như vậy nhằm những mục đích gì?

Gợi ý:

Thuế là nghĩa vụ của công dân đóng góp vào ngân sách nhà nước (chủ yếu là bằng tiền và vật chất. Trong thực tế không có thứ thuế nào gọi là thuế máu.

Thuế máu là một ẩn dụ, là cách nói hình tượng làm ta liên tưởng đến một thứ thuế bằng xương máu, tính mạng con người.

Thuế máu là cách đặt tên của tác giả nhằm p/á mộtthủ đoạn bóc lột tàn nhẫn của chế độ TD ở các nước thuộc địa: biến người dân thành những vật hi sinh trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa. Cách đặt tên thuế máu đã bộc lộ trực tiếp quan điểm phê phán, tố cáo của t.g trước thực trạng đó đồng thời gợi cho ta thấy những hình ảnh đau thương của những con người thuộc địa nghèo khổ đã bị lợi dụng để phục vụ cho chiến tranh phi nghĩ, gợi căm thù đối với chủ nghĩa thực dân Pháp tàn bạo dã man.

Nhan đề có tác dụng phản ánh sự cai trị tàn ác, vô nhân đạo của chính quyền thực dân đối với người dân thuộc địa.

2- Tức nước vỡ bờ

Giải nghĩa câu thành ngữ “Tức nước vỡ bờ”:

“Tức nước” có nghĩa là nước rất đầy, như muốn trào ra. “Bờ” là nơi giới hạn của các con sông hay kênh đào. Hiện tượng “tức nước vỡ bờ” chỉ xảy ra khi nước quá lớn và sức nước quá mạnh và bờ không thể giữ được nên vỡ nước tuôn trào ra.

Nói theo nghĩa bóng là: Mỗi con người đều có mức giới hạn chịu đựng cả, vì vậy việc gì trong mức giới hạn thì người ta sẽ nhịn cho qua. Nhưng nếu chuyện xảy ra quá mức giới hạn cho phép của sức chịu đựng thì người ta sẽ phản kháng lại vô cùng mãnh liệt như chính sức mạnh dữ dội của nước làm cho vỡ bờ. Cũng như dân gian đã có câu: “Con giun xéo lắm cũng quằn”. Đó là quy luật tất yếu trong cuộc sống.

Đoạn trích trong tác phẩm “Tắt đèn” đã lấy câu thành ngữ “Tức nước vỡ bờ” chính là muốn người đọc hình dung được tình thế của chị Dậu. Chị đã chạy vạy hết sức để có tiền nộp sưu, đến nỗi phải bán cả đứa con gái yêu quý mà vẫn không ddue tiền nộp sưu cho chồng. Khi bọn cai lệ đến, chị đã hết mực lạy lục van xin vậy mà chúng vẫn không chịu tha cho anh Dậu đang ốm yếu, nhất quyết bắt anh ra đình tra tấn. Như vậy chị đã bị dồn ép đến bước đường cùng, không còn chịu đựng được nữa, chị đã vùng lên chống lại bọn cai lệ để bảo vệ chồng mình.

Nhan đề cũng giúp người đọc hình dung tình thế xã hội Việt Nam trước CM tháng 8 – đặc biệt là người nông dân – bị bần cùng hóa đến kiệt quệ, chỉ chờ cơ hội là vùng lên chống lại áp bức cường quyền. Gợi sự đồng cảm của người đọc với thân phận người nông dân đồng thời gợi sự căm phẫn đối với ách thống trị của chế độ thực dân – phong kiến.

3- Lão Hạc

Là nhân vật chính trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.

Nam cao đã lấy tên nhân vật chính đặt tên cho tác phẩm. Nội dung chính của tác phẩm xoay quanh số phận nghèo khổ của lão Hạc…. (Tóm tắt)

Nhan đề đã phần nào gợi sự đồng cảm của người đọc với thân phận người nông dân đồng thời gợi sự căm phẫn đối với ách thống trị của chế độ thực dân – phong kiến.

4- Khi con tú hú

Tên bài thơ chỉ là vế phụ của 1 câu (trạng ngữ chỉ thời gian): Khi con tu hú gọi bầy- là khi mùa hè đến, người tù CM càng cảm thấy ngột ngạt trong phòng giam chật chội, càng thèm khát cháy bỏng c.sống tự do tưng bừng ở bên ngoài.

Tiêu đề có sức gợi hình, gợi cảm cao.

5- Ý nghĩa nhan đề tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi.

“Bình Ngô đại cáo” là một tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Trãi. Trong lịch sử đã ghi rõ, sau một thời gian cầm cự để xây dựng lực lượng (1418-1423), nghĩa quân Lam Sơn đã chuyển sang thời kì phản công. Đến mùa đông 1427, sau khi đập tan mười lăm vạn quân tiếp viện của giặc Minh, nước ta hoàn toàn được giải phóng. Đầu năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Thuận Thiên (thuận ý trời) và Nguyễn Trãi thừa lệnh soạn bài cáo và được công bố ngày 17 tháng chạp năm Đinh Mùi để cho toàn dân biết cuộc kháng chiến chống giặc Minh đã thắng lợi rực rỡ, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn xây dựng hòa bình. Như vậy, bài cáo được ra đời trong lúc toàn quân, toàn dân đang hân hoan chào đón chiến thắng sau 10 năm chiến đấu gian khổ, anh dũng.

“Bình” nghĩa là bằng, dẹp yên. “Ngô” được hiểu theo hai nghĩa: vừa là để chỉ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương dấy binh ở đất Giang Tô lúc đầu xưng là Ngô Quốc Công cũng vừa là để chỉ đời Ngô thời Tam Quốc, phương Bắc sang cai trị nước ta tàn ác, từ đó nhân dân hay gọi Ngô với ý khinh ghét, ám chỉ lũ giặc tàn ác. Hai chữ “Bình Ngô” nói về sự nghiệp dẹp minh của nghĩa quân Lam Sơn nhưng cách viết “Bình Ngô” mà không phải là “Bình Minh” cho thấy tư thế chiến thắng, tâm thế kiêu hãnh của dân tộc trước kẻ thù.

Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết. Trong thể cáo có loại văn cáo thường ngày như chiếu sách của vua truyền xuống, có loại văn đại cáo mang ý nghĩa một sự kiện trọng đại mang tính chất quốc gia. Cáo có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu. Cũng như hịch, cáo là thể văn hùng biện do đó lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ mạch lạc.

Theo khái niệm trên, “Bình Ngô đại cáo” thuộc loại văn đại cáo viết theo lối văn biền ngẫu có vận dụng thể tứ lục, hình tượng nghệ thuật sinh động gợi cảm. Mục đích là công bố rộng khắp cho mọi người biết về việc dẹp yên giặc Ngô, khẳng định chủ quyền của dân tộc và tương lai của đất nước. Bởi vậy, nó được coi là một bản tuyên ngôn độc lập.

“Bình Ngô đại cáo” là một văn kiện có giá trị chính trị – lịch sử – văn chương. Về chính trị, đây là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ 2 trong lịch sử (trước đó là Nam Quốc Sơn Hà – Lý Thường Kiệt). Về lịch sử, bài cáo đã đánh dấu một cột mốc lịch sử trọng đại, chấm dứt 10 năm đô hộ của giặc Minh, tiếp nối chủ quyền độc lập dân tộc. Về văn chương, đây là một áng văn chính luận kiệt xuất, bản thiên cổ hùng văn.

Như vậy, với nhan đề là “Bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi đã cho người đọc hình dung được hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa văn bản: đây là lời tuyên cáo rộng rãi của Lê Lợi đến toàn dân về sự nghiệp dẹp Minh.

Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt

Ý Nghĩa nhan đề bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt được VnDoc sưu tầm và đăng tải. Hình ảnh bếp lửa không chỉ quen thuộc với mỗi gia đình Việt Nam thời xưa, mà còn là biểu tượng của một tình cảm rất đẹp và thiêng liêng – Tình bà cháu gợi lại những kỉ niệm về tuổi thơ sống bên bà. Mời các bạn cùng tham khảo

Ý Nghĩa nhan đề bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

Bài 1

Hình ảnh bếp lửa không chỉ quen thuộc với mỗi gia đình Việt Nam thời xưa, mà còn là biểu tượng của một tình cảm rất đẹp và thiêng liêng – Tình bà cháu gợi lại những kỉ niệm về tuổi thơ sống bên bà và suy ngẫm thấu hiểu về cuộc đời bà, lẽ sống giản dị mà cao quý của bà, người cháu gởi niềm nhớ mong về với bà. Hình ảnh người bà gắn liền với bếp lửa và bếp lửa gợi đến ngọn lửa với 1 ý nghĩa trừu tượng và khái quát.

Bài 2

Bếp lửa – cái tên mang đề tài của tác phẩm vừa hàm chứa chủ lý tưởng. Hình ảnh bếp lửa không chỉ gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về tình cảm bà cháu, về tuổi thơ, bếp lửa còn có tính chất biểu tượng, mang ý nghĩ về cội nguồn, về người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa – ngọn lửa của nghĩa tình, của niềm tin cho các thế hệ nối tiếp và lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc của người cháu đối vối bà và cũng là đối với quê hương, đất nước.

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

– Sáng tác năm 1963, khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành Luật tại nước Nga

– In trong tập “Hương cây – bếp lửa” – tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.

“Năm ấy đói mòn đói mỏi” được nhắc đến là trong thời điểm Nạn đói năm 1945 đã khiến bao người phải chịu cảnh lầm than, phải chết đi. Năm ấy, Bằng Việt mới lên bốn tuổi. Sống trong hoàn cảnh ấy thì làm sao tránh được những cơ cực. Từ ghép “mòn mỏi” được chia tách ra, đan xen với từ đói đã gợi cái cảm giác nạn đói ấy vừa kéo dài và còn làm khô cạn sức người lẫn gia súc.

Lời nhắc ấy là lời nhắc cháu đã mang theo từ bếp lửa của bà. Ngọn lửa ấy luôn cháy trong lòng cháu. “Chờn vờn”, “ấp iu” nhưng dai dẳng và bền bỉ dù là “khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” vẫn không thể nào khiến nó bị lụi tàn hay che khuất.

Tình bà cháu trong “Bếp lửa” của Bằng Việt là tình cảm thiêng liêng cảm động. Bà dành cho cháu những hi sinh thầm lặng của phần đời mong manh còn lại. Bà là mái ấm chở che, bao bọc tuổi thơ dại khờ, yếu đuối của cháu trước những mất mát, đau thương của cuộc sống. Và người cháu, những năm tháng cháu đi trong đời là những năm tháng cháu nhớ đến bà với lòng tin yêu và biết ơn sâu sắc. Ngọn lửa bà trao cho cháu đứa cháu giữ vẹn nguyên để trở thành ngọn lửa trường tồn, bất diệt.

Một tác phẩm cũng nói về tình cảm bà cháu trong chương trình THCS là “Tiếng Gà Trưa” của tác giả Xuân Quỳnh.

Tóm tắt nội dung bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

“Bếp lửa” của Bằng Việt là những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, bộc lộ những tình cảm sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước. Từ phương trời Tây, người cháu nhớ về bà, nhớ về bếp lửa quê hương trong cảm xúc ngậm ngùi ngày ấy, kẻ thù xâm chiếm, gây cảnh đau thương. Bố mẹ đi kháng chiến, người cháu ở cùng bà. Bà thay bố mẹ chăm sóc và dạy bảo cháu từng ngày. Nhớ nhất là hình ảnh bếp lửa do bà nhóm mỗi ngày. Từ bàn tay bà, bếp lửa đã cháy lên trong mọi hoàn cảnh, cháy lên xuyên suốt những tháng ngày tuổi thơ của người cháu. Bếp lửa là nguồn sưởi ấm, chở che, là nguồn sống, nguồn sẻ chia, trở thành kỷ niệm không bao giờ quên được. Bếp lửa chứa đựng tình bà cháu thiêng liêng, bất diệt. Nay người cháu đã xa bà, xa quê hương nhưng hình ảnh người bà hiền hậu, hình ảnh bếp lửa nồng ấm được thắp lên mỗi sớm mai từ đôi bàn tay bà mãi mãi trở thành kí ức không bao giờ quên.

Giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Bếp lửa

Giá trị nội dung:

“Bếp lửa” của Bằng Việt là những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, bộc lộ những tình cảm sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước.

Bài thơ mở ra hình ảnh bếp lửa, gợi những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, về lẽ sống của bà. Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp.

– Thể thơ tám chữ kết hợp với 7 chữ, 9 chữ phù hợp với việc diễn tả dòng cảm xúc và suy ngẫm về bà.

– Giọng điệu tâm tình, thiết tha, tự nhiên, chân thành.

– Sáng tạo hình ảnh bếp lửa – hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng.

Ý nghĩa hình tượng “ngọn lửa”, “bếp lửa” trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

Bằng Việt rất thành công khi xây dựng hình tượng bếp lửa gắn chặt với hình ảnh người bà hiền hậu. Hình ảnh “ngọn lửa”, “bếp lửa” trong bài thơ mang ý nghĩa biểu trưng đặc sắc.

Trước hết, hình ảnh bếp lửa vốn là hình ảnh thật của bếp lửa mà ngày ngày người bà nhen lửa nấu cơm. Bếp lửa ấy ăn sâu vào đời sống tinh thần của con người, gắn chặt với niềm tin tâm linh vững chắc: sự che chở và phù trợ cuộc sống con người của vị thần lửa.

Nhưng bếp lửa lại trở thành hình ảnh tượng trưng, gợi lại tất cả những kỷ niệm ấm áp của hai bà cháu. Lửa thành ra ngọn lửa tình yêu, lửa niềm tin, ngọn lửa bất diệt của tình bà cháu, tình quê hương đất nước. Bếp lửa mà người bà ấp iu hay chính là tình yêu thương mà bà nâng niu dành tất cả cho cháu, từ việc dạy cháu làm, chăm cháu học, bảo cháu nghe. Bếp lửa cũng là nơi bà nhóm lên tình cảm, khát vọng cho người cháu. Nhóm lửa do đó cũng vừa có nghĩa thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng.

Bài thơ mở ra hình ảnh bếp lửa, gợi những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, về lẽ sống của bà. Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp. Hình ảnh “bếp lửa”, “ngọn lửa” trải qua bao thời gian, bao biến đổi rồi cuối cùng đi về với lòng người, trở thành sức mạnh tinh thần chiến thắng nghịch cảnh, vươn tới những gì cao đẹp nhất.