Top 4 # Ý Nghĩa Văn Bản Bài Qua Đèo Ngang Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Nêu Ý Nghĩa Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Có nơi đâu đẹp tuyệt vời

Như sông như núi, như người Việt Nam

Câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam. Thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hoà sức sống. Chính vì vậy, thiên nhiên luôn là dề tài bất tận của thi ca. Lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Nhưng đồng thời, cảnh vật cũng sẽ nhuốm màu ảm đạm, thê lương dưới ánh mắt của các nhà thơ mang một tâm sự u hoài khi sáng tác một bài thơ tức cảnh. Vì thế, đại thi hào Nguyễn Du đã từng nói: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Câu thơ thật thích hợp khi ta liên tưởng đến bà Huyện Thanh Quan với bài thơ Qua đèo Ngang.

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà.

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại, trời non, nước

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Phải hiểu rõ và yêu quý bài thơ mới thấy hết được tài năng cũng như tư tưởng luôn hướng về quê hương đất nước và gia đình của bà Huyện Thanh Quan. Ai dám bảo rằng người phụ nữ trong xã hội phong kiến không có được những tình cảm thiêng liêng đó?

Chỉ mới đọc hai câu đầu của bài thơ thôi:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

là ta đã nhận ngay ra một nỗi buồn xa vắng.

Câu thơ xuất hiện cụm từ bóng xế tà và sự hiện diện của điệp từ chen cùng cách gieo vần lưng lá, đá đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. Từ tà như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. Ca dao cũng đã có câu:

Vẳng nghe chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau

Thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. Mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ Qua đèo Ngang, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật ở Hoành Sơn. Cảnh vật đã buồn lại trống vắng hơn bởi điệp từ chen ở câu thứ hai. Nó làm cho người đọc thơ bỗng cảm nhận được sự hoang vắng của đèo Ngang lúc chiều tà, bóng xế mặc dù nơi đây rất đẹp: có cỏ cây, đá, lá, hoa. Vì ở đây vắng vẻ quá nên thi sĩ đã phóng tầm mắt để tìm kiếm một chút gì gọi là sự sống linh động. Và kìa, phía xa xa dưới chân đèo xuất hiện hình ảnh:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà

Câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gió. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở đây. Nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn. Sự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. Từ vài, mấy như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. Trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống.

Từ ghép đau lòng, mỏi miệng khiến cho ta có cám giác tha thiết, ray rứt. Từ nhớ nước, thương nhà là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia gia phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó?

Sự song song về ý, về lời của hai câu thơ trong phần luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình cảm của bà Huyện Thanh Quan đối với Tổ quốc, gia đình trước cảnh thật là khéo léo và tài tình. Từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo Ngang đã khiến cho tác giả sực nhớ đến mình và tâm sự:

Dừng chân dứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. Dừng lại và quan sát bà chỉ thấy: trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với núi, với sông khiến cho con người cảm thấy mình bé nhỏ lại, đơn độc, trống vắng, ở đây, chỉ có một mình bà ta với ta, lại thêm mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái. Vũ trụ bao la quá! Con người cô đơn quá! Tất cả lại được diễn tả dưới ngòi bút tài hoa của người nữ sĩ nên bài thơ là bức tranh đặc sắc. Từ ta với. ta như một minh chứng cho nghệ thuật điêu luyện trong sáng tác thơ ca của bà Huyện Thanh Quan. Bởi vì cũng ta với ta nhưng nhà thơ Nguyễn Khuyến lại nói:

Bác đến chơi đây ta với ta

Lại là sự kết hợp của hai người: tuy hai mà một, tuy một mà hai. Còn bà Huyện lại:

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Đã tô đậm thêm sự lẻ loi, đơn chiếc của mình. Qua câu thơ, ta như cảm nhận sâu sắc hơn nỗi niềm tâm sự của tác giả trước cảnh tình quê hương…

Từ xưa đến nay, có nhiều nhà thơ tả cảnh đèo Ngang nhưng không ai thành công bằng bà Huyện Thanh Quan vì trong tác phẩm của bà có cả tâm hồn, tình cảm, nỗi lòng và tài năng của một cây bút tuyệt vời. Cả bài thơ được gieo vần “a” như chính tâm sự hoài cổ của tác giả. Chúng ta không tìm thấy dù chỉ một chút gọi là sự ồn ào trong cách miêu tả. Tất cả chỉ là sự trầm lắng, mênh mang như chính tâm sự của tác giả.

Lời thơ nghe xao xuyến, bồi hồi làm cho người đọc xúc động cũng chính là những cảm xúc sâu lắng của bà Huyện Thanh Quan khi đặt chân lên đèo Ngang trong khung cảnh miền núi khi hoàng hôn buông xuống. Cũng những cảm xúc ấy, ta sẽ gặp lại khi đọc bài Chiều hôm nhớ nhà của bà với câu:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa, vẳng trống dồn.

Để tỏ lòng biết ơn đối với nhà thơ xưa đã cho ta những phút giây có được tình cảm tốt đẹp xuất phát từ đáy tâm hồn, từ sự rung cảm thật sự, người đời đã đặt một tên làng, một tên đường: Bà Huyện Thanh Quan để mãi mãi ghi nhớ tài năng cũng như tư tưởng tuyệt vời của người, nữ sĩ đối với non sông, đất nước một thời đã qua.

Bài Thơ: Qua Đèo Ngang

-Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX, chưa rõ năm sinh, năm mất

-Quê quán: làng Nghi Tàm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội

-Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Ninh), tỉnh Thái Bình, do đó mà có tên gọi Bà Huyện Thanh Quan

-Bà là một trong số nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường luật.

-Thơ bà thể hiện lòng yêu mến cảnh quan thiên nhiên, đất nước và tâm sự u hoài trước thế sự đổi thay. Tác phẩm nào của bà cũng buồn thương da diết, trang nhã và rất điêu luyện

1. Hoàn cảnh ra đời

Bài thơ được sáng tác khi bà từ trên đường từ Bắc Hà vào Huế nhận chức “Cung Trung giáo tập”

2. Bố cục (4 phần )

-Phần 1 (hai câu đề): Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

-Phần 2 (hai câu thực): Cuộc sống của con người ở Đèo Ngang

-Phần 3 (hai câu luận): Tâm trạng của tác giả

-Phần 3 (hai câu kết): Nỗi cô đơn đến tột cùng của tác giả

3. Giá trị nội dung

bài thơ “Qua Đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời, thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng, cô đơn của tác giả

4. Giá trị nghệ thuật

-Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

-Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

-Sử dụng từ láy gợi hình gợi cảm và nghệ thuật đối lập, đảo ngữ

I. Mở bài

-Giới thiệu về tác giả Bà Huyện Thanh Quan (tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, đặc điểm sáng tác…)

-Giới thiệu về bài thơ “Qua Đèo Ngang” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)

II. Thân bài

1.Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

-Thời gian: xế chiều – thời điểm dễ gợi nên nỗi buồn cô đơn, sự trống vắng

-Không gian: Đèo Ngang – một con đèo hùng vĩ, phân chia hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, là ranh giới phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài ngày xưa

-Cảnh vật:

+Các sự vật: cỏ cây, lá, đá, hoa

+Động từ: chen – lẫn vào nhau, không ra hàng ra lối, động từ “chen” chen vào giữa hai câu thơ gợi cảnh tượng rậm rạp, hoang sơ

⇒Cảnh vật đầy sức sống nhưng hoang sơ, rậm rạp và hắt hiu

2.Cuộc sống con người ở Đèo Ngang

-Sử dụng từ láy có giá trị gợi hình: lom khom, lác đác – gợi cảm giác thưa thợt, ít ỏi

-Nghệ thuật đảo ngữ:

+Lom khom … tiều vài chú

+Lác đác … chợ mấy nhà

⇒Nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi, nhỏ nhoi của sự sống ở giữa cảnh vật thiên nhiên rộng lớn, hoang sơ

⇒Hình ảnh con người hiện lên thưa thớt, ít ỏi làm cho cảnh vật thêm hoang vắng, tiêu điềi. Qua đó, gợi cảm giác buồn hiu, vắng lặng của tác giả

3.Tâm trạng của tác giả

-Âm thanh của chim quốc quốc, gia gia: nghệ thuật lấy động tả tĩnh, chơi chữ. Tiếng chim quốc, chim gia gia nhớ nước, thương nhà cũng chính là tiếng lòng của tác giả thiết tha, da diết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước

-Câu thơ như một tiếng thở dài của tác giả

⇒Tâm trạng nhớ nước, nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả. Đó cũng chính là tâm trạng hoài cổ của nữ sĩ

4.Nỗi cô đơn tột cùng của tác giả

-Con người nhỏ bé, lẻ loi, cô đơn, một mình đối diện với cả vũ trụ bao la, rộng lớn

-“Một mảnh tình riêng, ta với ta”: một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không có ai để se chia, san sẻ

⇒Tâm trạng cô đơn, trống vắng, lẻ loi một mình đối diện với chính mình giữa vũ trụ bao la, rộng lớn

III.Kết bài

-Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác giả:

+Nội dung: Cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống của con người và tâm trạng nhớ nước, thương nhà và nỗi cô đơn của tác giả

+Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn bát cú, sử dụng từ láy, nghệ thuật đảo ngữ…

Các bài Soạn văn lớp 7 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 7 hơn.

Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Bài thơ: Qua Đèo Ngang

Bài giảng: Qua đèo ngang – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

Nội dung bài thơ: Qua Đèo Ngang

I. Đôi nét về tác giả Bà Huyện Thanh Quan

– Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX, chưa rõ năm sinh, năm mất

– Quê quán: làng Nghi Tàm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội

– Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Ninh), tỉnh Thái Bình, do đó mà có tên gọi Bà Huyện Thanh Quan

– Bà là một trong số nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường luật.

– Thơ bà thể hiện lòng yêu mến cảnh quan thiên nhiên, đất nước và tâm sự u hoài trước thế sự đổi thay. Tác phẩm nào của bà cũng buồn thương da diết, trang nhã và rất điêu luyện

II. Đôi nét về tác phẩm Qua Đèo Ngang

1. Hoàn cảnh ra đời

Bài thơ được sáng tác khi bà từ trên đường từ Bắc Hà vào Huế nhận chức “Cung Trung giáo tập”

2. Bố cục (4 phần )

– Phần 1 (hai câu đề): Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

– Phần 2 (hai câu thực): Cuộc sống của con người ở Đèo Ngang

– Phần 3 (hai câu luận): Tâm trạng của tác giả

– Phần 3 (hai câu kết): Nỗi cô đơn đến tột cùng của tác giả

3. Giá trị nội dung

bài thơ “Qua Đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời, thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng, cô đơn của tác giả

4. Giá trị nghệ thuật

– Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

– Sử dụng từ láy gợi hình gợi cảm và nghệ thuật đối lập, đảo ngữ

III. Dàn ý phân tích tác phẩm Qua Đèo Ngang

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Bà Huyện Thanh Quan (tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, đặc điểm sáng tác…)

– Giới thiệu về bài thơ “Qua Đèo Ngang” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)

II. Thân bài

1. Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

– Thời gian: xế chiều – thời điểm dễ gợi nên nỗi buồn cô đơn, sự trống vắng

– Không gian: Đèo Ngang – một con đèo hùng vĩ, phân chia hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, là ranh giới phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài ngày xưa

– Cảnh vật:

+ Các sự vật: cỏ cây, lá, đá, hoa

+ Động từ: chen – lẫn vào nhau, không ra hàng ra lối, động từ “chen” chen vào giữa hai câu thơ gợi cảnh tượng rậm rạp, hoang sơ

⇒ Cảnh vật đầy sức sống nhưng hoang sơ, rậm rạp và hắt hiu

2. Cuộc sống con người ở Đèo Ngang

– Sử dụng từ láy có giá trị gợi hình: lom khom, lác đác – gợi cảm giác thưa thợt, ít ỏi

– Nghệ thuật đảo ngữ:

+ Lom khom … tiều vài chú

+ Lác đác … chợ mấy nhà

⇒ Nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi, nhỏ nhoi của sự sống ở giữa cảnh vật thiên nhiên rộng lớn, hoang sơ

⇒ Hình ảnh con người hiện lên thưa thớt, ít ỏi làm cho cảnh vật thêm hoang vắng, tiêu điềi. Qua đó, gợi cảm giác buồn hiu, vắng lặng của tác giả

3. Tâm trạng của tác giả

– Âm thanh của chim quốc quốc, gia gia: nghệ thuật lấy động tả tĩnh, chơi chữ. Tiếng chim quốc, chim gia gia nhớ nước, thương nhà cũng chính là tiếng lòng của tác giả thiết tha, da diết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước

– Câu thơ như một tiếng thở dài của tác giả

⇒ Tâm trạng nhớ nước, nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả. Đó cũng chính là tâm trạng hoài cổ của nữ sĩ

4. Nỗi cô đơn tột cùng của tác giả

– Con người nhỏ bé, lẻ loi, cô đơn, một mình đối diện với cả vũ trụ bao la, rộng lớn

– “Một mảnh tình riêng, ta với ta”: một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không có ai để se chia, san sẻ

⇒ Tâm trạng cô đơn, trống vắng, lẻ loi một mình đối diện với chính mình giữa vũ trụ bao la, rộng lớn

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác giả:

+ Nội dung: Cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống của con người và tâm trạng nhớ nước, thương nhà và nỗi cô đơn của tác giả

+ Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn bát cú, sử dụng từ láy, nghệ thuật đảo ngữ…

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Các bài Soạn văn lớp 7 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 7 hơn.

tac-gia-tac-pham-lop-7.jsp

Đọc Hiểu Văn Bản: Qua Đèo Ngang

ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN TÌM HIỂU KHÁI NIỆM – Thơ Đường luật

Còn gọi là thơ cận thể. Thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra từ đời Đường ở Trung Quốc. Có ba dạng chính : Thơ bát cú (mỗi bài tám câu), thơ tứ tuyệt (mỗi bài bốn câu) và thơ bài luật (dạng kéo dài của thơ Đường luật), trong đó thơ bát cú, nhất là thất ngôn bát cú (mỗi bài tám câu, mỗi câu bảy chữ), được coi là dạng cơ bản vì từ nó, có thể suy ra các dạng khác. Về bố cục, một bài bát cú gồm 4 phần : đề, thực, luận, kết. Trong đề, câu thứ nhất là phá đề, câu thứ hai là thừa đề. Phá đề mở ý của đầu bài ra, thừa đề tiếp ý của phá đề chuyên vào thân bài. Thực (câu 3 và 4) còn gọi là trích thực hay cập trạng, giải thích rõ ý của đầu bài. Luận (câu 5 và 6) phát triển rộng ý của đầu bài. Kết (hai câu cuối) kết thúc ý toàn bài. Cách chia thành 4 phần như vậy cũng như việc quy định rõ nhiệm vụ cho từng phần càng về sau càng chặt. Các nhà thơ có tài năng thường không để cho bố cục nói trên gò bó. Về luật bằng trắc, buộc phải theo sự quy định về thanh bằng thanh trắc trong từng câu và trong cả bài. Hệ thống này được tính từ chữ thứ hai của câu thứ nhất. Nếu chữ này thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng (và ngược lại). Sự sắp xếp âm thanh chẳng qua chỉ làm cho điệu thơ không đơn điệu. Muốn vậy trong mỗi câu, các cặp bằng trắc lần lượt thay nhau trong mỗi cặp câu (còn gọi là liên), các chữ tương ứng của câu số lẻ và số chẵn phải có thanh ngược nhau (trừ chữ thứ năm và thứ bảy trong liên đầu) ; nhịp đi của liên trên phải khác nhịp đi của liên dưới, muốn vậy chữ thứ hai của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanh với chữ thứ hai của câu lẻ thuộc liên dưới (sự giống nhau đó gợi là niêm vì làm cho hai câu thuộc hai liên dính vào nhau). Ví dụ : công thức bốn câu đầu của một bài thơ luật bằng :

Trên thực tế, ít người theo đúng hoàn toàn công thức, do đó sinh ra lệ bất luận : chữ thứ nhất của câu hoàn toàn bất luận (bằng trắc đều được) ; chữ thứ năm nói chung ngược thanh với chữ thứ bảy, song cũng có thể bất luận ; riêng chữ thứ ba, nếu là bằng thì không nên đổi thành trắc, nhất là ở câu có vần. Về cách đối : đôi ở phần thực và luận. Các chữ đối nhau về nguyên tắc phải cùng từ loại. Các nhà thơ thường thích dùng các kiểu đối khác nhau để giảm tính chất gò bó như đối lưu thuỷ (hơi thơ cũng như ý của câu thứ hai là do câu thứ nhất trượt xuống, không thể đứng một mình), tá đối (mượn âm hoặc nghĩa một từ khác để đối), điệu đối (chủ yếu là đối về âm điệu), tự đối (đối trong nội bộ một câu), khoan đối (đối không thật chỉnh)… về cách gieo vần : chỉ gieo một vần và chỉ gieo vần bằng (ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8). Riêng chữ cuối câu thứ nhất, đặc biệt là ở thơ ngũ ngôn, có thể không gieo vần.

Trong quá trình sử dụng, các nhà thơ đã sáng tạo thêm nhiều biệt thể mới của thơ Đường luật như tiệt hạ (ý, lời của mỗi câu thơ đều lơ lửng), yết hậu (thơ tứ tuyệt mà câu cuối chỉ có một vài chữ), thủ vĩ ngâm (câu một giống câu tám),… Nhiều nhà thơ Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tú Xương, Nguyễn Khuyến đã sử dụng thể thơ Đường luật để viết nhiều bài thơ có giá trị và trong quá trình sử dụng, đã dân tộc hoá thể thơ này về nhiều phương diện. Do tính chất gò bó về hình thức, từ lâu, đối với số đông người làm thơ, thơ Đường luật khó diễn đạt được đầy đủ, sinh động tình cảm của con người hiện đại. Tuy vậy, thơ Đường luật thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện trên một số lĩnh vực và ở một số trường hợp nhất định trong cuộc sống văn hoá của nhân dân ta.

(Nguyễn Khắc Phi/ Từ điển văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984)

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

Ở bài thơ này bà Huyện chỉ nói tâm tư của mình.

Đèo Ngang là một cảnh được nhiều người ngâm vịnh. Vì vị trí lịch sử (vùng giáp ranh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong suốt hai thế kỉ) đã đành, còn là vì cảnh trí thiên nhiên ngoạn mục : đứng trên đỉnh nhìn quanh, đông là biển xanh thăm thẳm, sóng tung bọt trắng vào chân núi, tây là núi biếc trùng trùng, bắc nam là vùng cận sơn, đất sỏi một màu đỏ thẫm. Đường ô tô nay còn quanh co, khuất khúc, huống gì hồi xưa. Tột đỉnh, ngày đó là cửa quan đỏ chót ba chữ Hoành Sơn Quan.

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Bà đến đây vào lúc bóng chiều đã ngả, không chỉ xế mà xế tà. Thời điểm ấy không còn là thời điểm cho vui tươi, rạng rỡ mà đã xiêu xiêu về phía hoài niệm, mơ màng, cảnh vẫn ra vẻ tươi : cỏ cây chen giữa đá, lá chen giữa hoa (có thể hiểu : đá chen giữa cỏ cây, hoa chen giữa lá). Nhưng sao lại không vui, mà lại gây ấn tượng chen lấn, giành giật, tranh lấy một không gian sống ? Tịnh không mảy may chào đón, hớn hở gặp được một nhà thơ lại là một bà quan. Cỏ cây, đá, lá, hoa cứ làm việc của nó, chang biết gì đến người khách quý.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mây nhà.

Cỏ cây, hoa đá còn giành giật nhau đất sống, hỏi con người sẽ ra sao ? Rõ là tội nghiệp : Lân với cổ đá, tiều chỉ vài chú lẻ loi, thân hình lom khom như bị núi đè xuống dưới nhỏ nhoi, xa lơ dưới vực sâu. Còn chợ thì tận bên sông (có thể hồi đó, sông Roòn đang còn ở gần núi, từ Đèo có thể nhìn thấy chợ bên sông?), xa tít xa mù, lẽ ra đông nhà đông người, thì chỉ có lác đác mỗi nơi một vài nhà ! Dưới núi, bên sông sao nghe xa xôi thế ! cỏ đá thì giành nhau chỗ sinh tồn vì quá đông, thiên nhiên quá rậm rạp, còn con người thì sao mà thưa thớt, bé nhỏ, hắt hiu vậy ? cảm giác không gian sao mà mênh mông, trông vắng !

Cảnh hiện thực khách quan đó chăng? Hay là cảnh tâm trạng ? Đến hai câu luận mới rõ dần :

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Ít nhất đây cũng là tâm trạng con người bé nhỏ đối diện với thiên nhiên bao la. Cũng cần biết một chút điển tích : chim cuốc được lưu truyền là hồn vua Thục Đế mất nước nên đau lòng gào kêu mãi quốc quốc. Con đa đa (chữ Hán gọi là gia gia) nhắc tích Bá Di, Thúc Tề, bề tôi nhà Thương, thà chết đói chứ không chịu sống với nhà Chu (triều đại đã diệt nhà Thương) và ăn thóc nhà Chu ; nó là hoá thân của hai vị ấy nên nó luôn kêu “bất thực cốc Chu gia” (dân gian nhại là “bắt con tép kho cà”) tức không ăn thóc nhà Chu ; nhưng gia gia thì nhắc đến nhà.

Bỗng dưng nhắc đến nước, đến nhà chắc không phải không có căn cớ.

Bà Nguyễn Thị Hinh, người Đàng Ngoài, thuộc Lê Trịnh ; nay đã là triều Nguyễn, con cháu chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nói như xưa, mệnh thời thế là đã chuyên về họ Nguyễn. Tuy vậy, trong tâm tư thế hệ bà, người đất Bắc không khỏi không ngầm lắng một niềm luyến tiếc nhà Lê, tiếc thương thời cũ. Gia đình bà lại ở Hà Nội. Thăng Long xưa nay đã thay đổi và đã mất dần dấu tích xưa. Nay bà lại vào kinh, một nơi lạ nước lạ nhà, một mình ngàn dặm. Phụ nữ xưa kia mấy khi xa nhà. Nhớ cảnh cũ người xưa, nghĩ nước nhớ nhà, tâm trạng ấy, càng đi xa vào Nam càng nặng, và qua Đèo Ngang là như bước qua vùng đất Đàng Trong, chốn lạ. Cho dù đau lòng bên trong và mỏi miệng bên ngoài, mỗi bên có thể nặng nhẹ khác nhau, nhưng nhớ nước và thương nhà đều một mực tha thiết. Cặp phạm trù nước nhà này có gốc rất sâu trong lòng Việt Nam. Chạm tới nó là khơi động bao nỗi niềm thiết tha, gắn bó của con người với nước và nhà, nước chung và nhà riêng nhưng nhuyễn quánh làm một. Nhớ nước đã đau, thương nhà đã mỏi. Thương nhà đã thêm chiều sâu ở nhớ nước. Nhớ thương như thế không còn là nhớ thương bình thường của riêng một người. Đó là một nỗi nhớ thương có tính cách lịch sử.

Mượn tiếng kêu của hai con chim mà gợi đến nỗi niềm ấy trong lòng, kì thực là từ cảnh trước mắt quay về cảnh đã qua, từ hiện tại trở về quá khứ. Quốc quốc, gia gia trở thành những sinh vật của thời nào, nơi nào, không phải của thời điểm này, không gian này. Nó có đấy mà như không có đấy. Nó mơ hồ, huyền hoặc như nó là hiện thân của tấm lòng người khách đi đường lẻ loi, nhiều tâm sự. Hai cầu thơ như hai tiếng vọng của xa xôi thời gian và mờ mịt không gian, mường tượng như hai tiếng than thương tự đáy lòng.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Đúng là vậy. Trước cảnh trời, non, nước ở Đèo Ngang, non trùng điệp, nước mênh mông, trước cái vô cùng của trời đất, cảnh bể dâu của cuộc đời, con người thấy bé nhỏ tội nghiệp bao nhiêu ! Thêm cái tâm trạng ngổn ngang nhiều suy cảm, con người càng thấy mình cô đơn. Cho nên, quay lại, chỉ có mình với mình, với mảnh tình riêng của mình, đơn lẻ, nhỏ nhoi. Sáu câu thơ là một sự trống vắng mênh mông.

Ta có cảm tưởng bài thơ tả cảnh mà không tả cảnh, chỉ mượn cảnh để tả tâm trạng một người nhưng cũng không phải tâm trạng một người. Nó là một tiếng nói của lịch sử, một chứng tích lịch sử, một đoạn đau thương trong trường khúc đau thương của non nước Việt Nam ở giai đoạn lịch sử có tính bi kịch này. Cái bóng xế tà của nhà thơ không chỉ chiếu nghiêng xuống bài thơ mà còn ngả dài xuống lịch sử, xuống số phận nhân dân ta và đất nước ta dưới triều Nguyễn. Bài thơ của một khoảnh khắc mà ai hay lại là một dự báo cho lâu dài.

(Theo Lê Trí Viễn, Sđd)

VĂN BẢN ĐỌC THÊM

QUA ĐÈO NGANG

Bãi thẳm, ngần xa, cảnh vắng teo

Đèo Ngang lợi bể nước trong veo

Thà là cúi xuống cây đòi sụt

Xô xát trông lên sóng muốn trèo

Lảnh chảnh đầu mầm chim vững tổ

Lanh đanh cuối vụng cá ngong triều

Cuộc cờ kim cổ chừng bao nả

Non nước trông qua vẫn bấy nhiêu.

(Lê Thánh Tông)

* Gợi dẫn

Hãy phân tích điểm giống và khác nhau giữa bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan và của Lê Thánh Tông.