Top 10 # Ý Nghĩa Văn Bản Xa Ngắm Thác Núi Lư Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Văn Bản “Xa Ngắm Thác Núi Lư”.

[Văn 7] Văn bản “Xa ngắm thác núi Lư”.

Cảm nghĩ của em về cảnh đẹp và tâm hồn tác giả được khắc hoạ trong bài xa ngắm thác núi Lư của Lí Bạch

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây.

Đầu đề của nguyên tác là: “Vọng Lư Sơn bộc bố”,nghĩa là xa ngắm thác bạc trên Lư Sơn.Lư Sơn là dãy núi ở Sơn Tây,Trung Quốc có nhiều ngọn chạy dài,nhưng chỉ có một ngọn là có thác đổ :

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác nước sông này.

Hương Lô hay Hương Lư là núi Lư Hương,một ngọn của dây núi Lư trông giống như chiếc bình hương.Hai câu đầu của bài thơ là cảnh tổng quát của bức tranh sông núi hùng vĩ.Nhà thơ đứng ngắm thác từ phía xa và ở một vị trí thấp hơn nhiều so với chiều cao của thác.Do đó,trước mắt ông,cảnh dòng thác và núi Lư đâu khác gì một bức tranh sơn thủy treo ở lưng chừng trời.Bức tranh này có nhiều màu sắc và có vẻ đẹp huyền ảo.Ở độ cao ba ngàn thước,dòng thác đổ xuống như bay hơi nước bốc lên thành những làn khói.Các làn khói nước này với muôn ngàn thấu kính li ti được ánh nắng mặt trời rọi vào,tạo nên một sắc tía cầu vồng kỳ ảo,đó là khói tía.Màu vàng của nắng,sắc tía của khói nước gợi nên vẻ đẹp huyền ảo của toàn cảnh.Dáng núi lại gợi hình giống chiếc bình hương.Bởi vậy,khi nhìn vào,nhà thơ chợt nghĩ đến chiếc bình hương khổng lồ đang tỏa khói nghi ngút giữa trời và nước.

Bức tranh kỳ vĩ của núi sông này như được bàn tay này của người thợ vẽ tài hoa là tạo hóa đã pha màu tạo sắc.Giữa nền xanh của núi,hơi nước trắng rọi tỏa bay như khói hương là dòng nước bạc đồ sộ,tuôn dài như một tấm vải trắng.Chữ Hán “bộc” là thác,”bố” là tấm vải.”Bộc bố” ý nói thác nước tuôn như một tấm vải trắng:

Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,

Lời thơ và nhịp thơ mạnh mẽ làm nổi bật hẳn lên hình ảnh hùng vĩ,kỳ diệu của một dòng thác từ trên cao gần ba ngàn thước bay thẳng xuống.

Chỉ với ba câu thơ ngắn,ngòi bút tài tình của nhà thơ Lí Bạch,khung cảnh Lư Sơn như hiện ra trước mắt ta với đầy đủ màu sắc,hình khối,đường nét…Nhưng dường như ba câu thơ ấy chỉ để chuẩn bị.Sức mạnh của bài thơ,vẻ đẹp huyền ảo kỳ vĩ và đồ sộ của dòng thác núi Lư đã được dồn vào câu kết:

Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.

Câu thơ trước hết là cảm nghĩ của nhà thơ khi đứng trước cảnh thực.Ông so sánh thác bay thẳng xuống như dải Ngân Hà tuột khỏi mây.Thật là một so sánh sáng tạo bất ngờ đầy thú vị và sảng khoái cho người đọc : “Nghi thị Ngân Hà lạc hữu thiên”.Dải Ngân Hà là nơi tập trung dày đặc muôn vàn tinh tú vắt ngang trời.Ánh sáng của dải sao này được so sánh với dòng sông bạc trên trời.Cách so sánh ấy cũng làm tôn thêm vẻ đẹp kỳ vĩ của dòng thác nui Lư có thực ở trần thế.

Thấy dòng thác lấp lánh bạc đổ xuống tưởng như dải Ngân Hà lạc khỏi chín tầng mây ở trời cao,cao lắm,rơi xuống hạ giới,vào thời đại bấy giờ,đây là hình ảnh đầy tự hào về trí tưởng tượng của nhà thơ trước khung cảnh hùng vĩ và đầy thi vị của thiên nhiên.

Bài “Xa ngắm thác núi Lư” của Thi tiên Lí Bạch đã lưu lại muôn đời bằng phương tiện văn học cái đẹp hùng vĩ của một dòng thác khổng lồ kì lạ.

Càng đọc thơ ông,ta càng yêu thiên nhiên đất nước và càng khâm phục thi tài của ông,khâm phục sự phóng khoáng của một nhà thơ có trí tưởng tượng dồi dào,phong phú;có nghệ thuật sử dụng ngôn từ tài hoa vào bậc nhất đời Đường.

Nguồn từ: [Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]

– -¤–^]. .Hạnh phúc là khi ta[^–¤- – – -¤–^] . . yêu thương . . . . .[^–¤- – – -¤–^] và được yêu thương.[^–¤- – – -¤–^]để biết ta đang sống[^–¤- –

Vẻ đẹp độc đáo, hùng vĩ tráng lệ của thác nước núi Lư qua cảm nhận đầy hứng khởi của thiên tài Lí Bạch, qua đó phần nào hiểu được tâm hồn phóng khoáng, lãng mạn của nhà thơ. Cảm nhận đươc tình yêu thiên nhiên của Lí Bạch.

Mùa xuân nho nhỏ ra đời khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Chắc hẳn, vào những ngày cuối cùng ấy, sau những chiêm nghiệm về cuộc sống với tất cả tình yêu, Thanh Hải muốn tiếp tục cất lên tiếng hót của “con chim chiền chiện” để góp nên một “mùa xuân nho nhỏ” cho cuộc đời, cho con người và cho đất nước yêu thương. Với thể thơ 5 chữ, với cách ngắt nhịp nhanh, gọn mà vẫn có độ dư ba, bài thơ đã dâng lên trong lòng tôi cảm giác rộn ràng, náo nức. Những gam màu trong trẻo, những hình ảnh đẹp, tươi sáng và đầy sức sống trong mỗi câu thơ cứ thấm dần vào trái tim tuổi trẻ của tôi.

Mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước được nhà thơ cảm nhận trong sự căng đầy của nhựa sống, trong nhịp sống đang hối hả và trong sự tươi non mơn mởn của những hi vọng vào tương lai. Giữa màu xanh yên bình của dòng sông xuân, sắc tím biếc cuả bông hoa không hề lạc lõng, chông chênh. Nó bám chắc vào lòng sông như một sợi dây vô hình làm nên sức sống. Trên cái nền màu dịu êm của “sông xanh” và “hoa tím biếc”, tiếng hót trong vắt của con chim chiền chiện vút cao, ngân vang đến bất tận đến trời xanh. Từng tiếng, từng tiếng chim trong veo hay tiếng nhịp thở của khí xuân hoà vào trời đất, vang vọng vào trong lòng người như những “giọt tâm hồn” sáng long lanh. Tiếng hót ấy khiến ta không thể dửng dưng mà khiến ta phải thốt lên tiếng gọi rủ về cái khát khao muốn nắm bắt, muốn “đưa tay hứng”.

Không tách mình khỏi khí xuân của thiên nhiên, đất nước trong công cuộc chuyển mình đi lên cũng rộn ràng, hối hả. Sức sống của đất nước không chung chung, trừu tượng mà nó biểu hiện ra ở “sức xuân” của mỗi con người. Mùa xuân trên lưng lính, lộc xuân trong tay người nông dân. Mỗi bước đi của người gieo thêm một chồi biếc, một mầm non. Và cứ thế, sức xuân của đất nước lại dâng lên như những lớp sóng xôn xao. Đất nước phấn chấn, hứng khởi trong một nhịp thở mới, hối hả khẩn trương. Niềm tin mới của dân tộc được chắp cánh từ truyền thống bốn nghìn năm dựng nước. Thế nên, dẫu biết có những vất vả và gian lao nhưng cả nước “vẫn đi lên phía trước” với một quyết tâm không mệt mỏi.

Những câu thơ của Thanh Hải đầy ắp hình ảnh, màu sắc và âm thanh. Nó tạo nên một không khí sôi nổi, háo hức, phơi phới vui tươi. Nó là một bức tranh tươi sáng sắc màu, là một bản nhạc rộn ràng tiết tấu trong trẻo, ngân nga và gợi cảm. Điều đặc biệt là: bức tranh thiên nhiên, bức tranh đất nước đầy sức sống ấy đã được nhà thơ cảm nhận khi ông đang ở vào cái giây khắc sắp lìa đời. Trên giường bệnh, nhà thơ vẫn mở rộng hồn mình, lắng nghe và đón nhận tất cả những thanh âm xao động của cuộc sống ngoài kia. Ông vẫn lắng nghe từng bước đi rất khẽ của đời. Bốn bức tường của phòng bệnh không thể ngăn cách cuộc đời với nhà thơ, những cơn đau của bệnh tật không làm giảm ý chí, bầu nhiệt huyết và niềm tha thiết yêu đời trong trái tim của người nghệ sĩ. Cái nghị lực phi thường ấy đáng để ta phải nâng niu và trân trọng xiết bao.

Bài thơ khép lại trọn vẹn trong tâm hồn và sự say sưa của người đọc bằng một ước nguyện thật chân thành và mãnh liệt biết bao. Nó thực là một khát khao đang bùng cháy: muốn được làm một nhành hoa như bông hoa tím biếc kia, muốn làm con chim hót vang trời những giọt long lanh như con chim chiền chiện. Cái khát khao không hề gợi một chút gì về hình ảnh khổ đau của một con người đang chết. Nó giống cái mãnh liệt và rạo rực của một sức thanh xuân đang tràn trề nhựa sống và khát khao cống hiến cho đời.

Nhiều người đã từng đồng ý với tôi rằng: những người trẻ tuổi đọc Mùa xuân nho nhỏ có thể tìm ra lý tưởng sống cho mình, còn với những người đã dâng cả tuổi thanh xuân cho đất nước thì vẫn thấy mình còn có thể làm được nhiều hơn. Mùa xuân nho nhỏ quả đã không chỉ là niềm say mê của riêng tôi. Nó xứng đáng là một bài thơ hay trong tủ sách quý của muôn người.

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây.

Đầu đề của nguyên tác là: “Vọng Lư Sơn bộc bố”,nghĩa là xa ngắm thác bạc trên Lư Sơn.Lư Sơn là dãy núi ở Sơn Tây,Trung Quốc có nhiều ngọn chạy dài,nhưng chỉ có một ngọn là có thác đổ :

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác nước sông này.

Hương Lô hay Hương Lư là núi Lư Hương,một ngọn của dây núi Lư trông giống như chiếc bình hương.Hai câu đầu của bài thơ là cảnh tổng quát của bức tranh sông núi hùng vĩ.Nhà thơ đứng ngắm thác từ phía xa và ở một vị trí thấp hơn nhiều so với chiều ca

Xa Ngắm Thác Núi Lư

Bài tập minh họa

Đề bài 1: Phân tích bài thơ ” Xa ngắm thác núi Lư” của Lý Bạch.

1. Mở bài

Thiên nhiên chiếm một vị trí sang trọng trong hồn thơ Lí Bạch. Với thanh kiếm hiệp sĩ và bầu rượu, túi thơ, Thi tiên đã đi tới mọi chân trời góc bể. Ở đâu có cảnh đẹp là ông tìm đến thăm thú, thưởng ngoạn và đề thơ.

Núi Hương Lô, thác núi Lư ở Giang Tây, Trung Quốc là một danh lam thắng cảnh. Bài “Vọng Lư Sơn bộc bố” (Xa ngắm thác núi Lư) của Lí Bạch viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng):

Có thể dẫn nguyên tác hoặc bài thơ dịch.

Bài thơ tả cảnh thác núi Lư tráng lệ với cảm xúc mạnh mẽ, ấn tượng sâu sắc của Lí Bạch khi đứng từ xa say sưa ngắm nhìn.

2. Thân bài

Câu thứ nhất tả núi Hương Lô (núi tựa như là cái lò hương thiên tạo khổng lồ) được ánh mặt trời chiếu xuống, rọi vào, sinh ra muôn ngàn làn khói tía (tím đỏ) vô cùng huyền ảo rực rỡ. Một nét vẽ thơ mộng:

“Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên” (Nắng rọi Hương Lô khỏi tía bay)

→ Cảnh đẹp thác núi Lư được tả bằng mắt và bằng tưởng tượng vì nhà thơ đứng ở một nơi rất xa ngắm thác.

Câu thứ hai, tả vị trí ngắm thác, ở một nơi rất xa. Núi cao, thác cao, tưởng như thác treo trên dòng sông lơ lửng, cheo leo ở phía trước. Chữ Hán “quải” nghĩa treo, một động từ tả hình dáng thác núi Lư. Đó là một thi nhân rất hình tượng và gợi cảm:

“Dao khan bộc bố quải tiền xuyên” (Xa trông dòng thác trước sông này)

→ Câu thơ dịch rơi mất chữ “quải”. Hai câu thơ đầu có năm chi tiết được nói đến, có núi, thác và sông, có ánh mặt trời và làn khói tía. Chữ “sinh” là một vẻ động rất thần tình, gợi tả vẻ đẹp huyền diệu của núi và thác.

Câu thơ thứ ba tả độ cao, chiều dài, tốc độ của dòng thác. “Phi lưu trực há” nghĩa là chảy như bay đổ thẳng xuống, đó là độ cao, là tốc độ mạnh ghê gớm của dòng thác. Con số ước lượng ba nghìn thước tả chiều dài: chảy bay (phi lưu), các tính từ – trạng ngữ: thẳng xuống (trực há) là những vẻ động, rất thần tình:

“Phi lưu trực há tam thiên xích” (Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước)

Câu thơ thứ tư là lời thốt lên vô cùng ngạc nhiên và thú vị của Thi tiên LíBạch:

” Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên”

(Tưởng dài Ngân Hà tuột khỏi mây)

→ Với trí tưởng tượng phi thường và cảm xúc lãng mạn bay bổng, Lí Bạch sử dụng thủ pháp nghệ thuật so sánh và thậm xưng để ví thác núi Lư kì vĩ, tráng lệ như dải Ngân Hà lấp lánh … triệu vì sao trên bầu trời. Dải Ngân Hà ấy đã rơi từ chín tầng mây cao xuống. Chữ “lạc” nghĩa là rơi, rụng, là thi nhãn trong câu thơ tuyệt cú.

3. Kết bài

Nét đặc sắc, độc đáo của bài “Vọng Lư Sơn bộc bố” là thủ pháp lấy diện để tô đậm điểm. Trên cái nền núi sông làn khói tía, Ngân hà, chín tầng mây của bầu trời bao la, kì vĩ hiện lên thác núi Lư. Các động từ: “chiếu, sinh, quải, phi lưu, lạc” là những nét đẹp rất gợi hình avf gợi cảm. Hình ảnh so sánh thác núi Lư với dải Ngân haftuoojt khỏi mây là một sáng tạo kì diệu thể hiện một bút pháp nghệ thuật lãng mạn và bay bổng.

“Vọng Lư Sơn bộc bố” thể hiện một tình yêu thiên nhiên say đắm, một sự cảm mến nồng hạu trước vẻ đẹp gấm vóc của giang sơn.

Bài thơ có tựa đề Xa ngắm thác núi Lư (Vọng Lư sơn bộc bố) nhưng câu thơ mở đầu lại không hề nói đôn ngọn thác ấy, mà miêu tả làn khói tía (tử yên) đang tỏa lên từ ngọn núi Hương Lô. Làn khói tía được “sinh” ra từ sự “giao duyên” giữa mặt trời và ngọn núi: “Nhật chiếu Hương Lô”. Nhờ sự giao duyên ấy mà không gian ở đây bỗng trở nên thi vị và thật hừu tình…

Ai cũng biết thơ Đường, trừ thơ trường thiên, thường có khuôn khổ gò bó, có những quy tắc rất nghiêm ngặt về số câu, số chữ… Bởi thế, để đạt được ý đồ nghệ thuật của mình, nhà thơ luôn phải chọn lựa những chữ rất “đắt” và hàm súc; phải dùng những thủ pháp nghệ thuật như gợi, ước lệ, tượng trưng…

Bài thơ của Lí Bạch mà chúng ta đang nói là một bài tứ tuyệt thất ngôn; lại là một bài hay của thơ Đường, thì chắc chắn mỗi câu, mỗi chữ của ông đều có một giá trị nghệ thuật nhất định.

Quả vậy, đọc lại câu thơ đầu ta không chỉ thấy một không gian thi vị, hữu tình mà còn cảm nhận tầm vóc vũ trụ của ngọn Hương Lô kia. Dưới mặt trời đang tỏa nắng là một ngọn núi tựa như một bình hương khổng lồ đang nghi ngút tỏa những làn khói tía vào vũ trụ. Hương Lô là một ngọn núi của dãy Lư Sơn, nơi ngọn thác đang đồ xuông.

Vậy thì ở câu thơ này, Lí Bạch không chỉ tả, mà điều côt yếu là ông muôn gợi, gợi mở tầm cao vũ trụ của ngọn thác. Nếu như câu một là gợi thì câu hai lại tả, nhưng tả thông qua sự cảm nhận mang đậm dấu ấn chủ quan của nhà thơ: đứng từ xa mà nhìn lại thì ngọn thác như treo (quải) trên dòng sông phía trước. Động từ “quải” (treo) gợi trí tưởng tượng của người đọc về thế dựng đứng của ngọn thác, tô đậm cảm giác về sự hùng vĩ của thiên nhiên nơi đây.

Và chính ý đó đã tạo đà cho câu thơ thứ ba: ” Phi lưu trực há tam thiên xích“. Đến đây bức tranh ngọn thác núi Lư được hiện lên với nhưng đường nét rõ ràng nhất. Những động từ ” phi” (bay), ” trực ” (thẳng) có sức biểu hiện mạnh mẽ, mang lại một ấn tượng mạnh về tóc độ và sức lực của dòng chảy đang đố xuống từ độ cao ba nghìn thước. Như vậy, sự kì vĩ, tầm vóc vũ trụ của ngọn thác mới chỉ đưực gợi và gợi tả ở câu một và câu hai, thì đến câu ba nó được thề hiện một cách cụ thể: chẳng những kì vĩ mà còn mang trong mình nó một sức mạnh vô biên, sức mạnh không gì cản được.

Dường như nét bút tả ngọn thác đã đến đỉnh điểm của nó. Và chính điều ấy khiến người đọc phải sững sờ bởi hình ảnh ngọn thác: “Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên”. ( Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây). Dải Ngân Hà – một dải màu sáng nhạt với những vì tinh tú nhấp nháy, vắt ngang bầu trời những đêm mùa hạ, không phải là một dòng sông thực, mà chỉ là một dòng sông trong tường tượng. Nói cách khác, dòng Ngân Hà chỉ là một hình ảnh tưởng tượng, có tính trừu tượng. Việc nhà thơ mang một cái trừu tượng để so sánh với cái cụ thể đã làm cho cái cụ thể trừu tượng hơn. Nhưng nhờ đó mà hình ảnh thơ (ngọn thác) trở nên huyền ảo và mang một nét đẹp diệu kì. Trước vẻ đẹp ấy, người đọc bị chông chênh giữa hai chiều nhận thức: thực – ảo; tiên giới – trần gian;… Điều đó không có gì lạ, mà nó chỉ khẳng định thêm cái cảm nhận về sự giao duyên, gặp gỡ giữa trời và đất mà chúng ta đã nói đến ở câu một mà thôi.

Thơ với người là một. Nét bút bay bổng, mạnh mẽ của Lí Bạch ở đây cũng chính là tâm hồn của nhà thơ. Một tầm vóc kì vĩ, một sức mạnh hào hùng và vẻ đẹp nên thơ cũng chính là những khao khát, ước vọng mà nhà thơ Lí Bạch vẫn thường vươn tới.

Đề bài 2: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ ” Xa ngắm thác núi Lư” của Lý Bạch.

1. Mở bài

Lí Bạch (701 – 762) là nhà thơ đời Đường bên Trung Quốc, được người đời gọi là Thi tiên ( Tiên thơ).

Ông có tài sáng tác thơ. Thơ Lí Bạch biểu hiện tâm hồn tự do, phóng khoáng và khả năng cảm nhận tinh tế trước thiên nhiên, trước cuộc đời.

Xa ngắm thác núi Lư viết về một thắng cảnh nổi tiếng là thác nước ở Lư Sơn. Nghệ thuật miêu tả độc đáo đã tạo nên giá trị bất hủ của bài thơ.

2. Thân bài a. Vẻ đẹp kì vĩ của thác nước núi Lư

Nhật,chiếu Hương Lô sinh tử yên (Nắng rọi Hương Lô khói tía bay)

→ Đỉnh núi Hương Lô là cái phông nền hoành tráng, tương xứng với vẻ đẹp phi thường của thác nước. Thời điểm miêu tả là vào buổi sáng, mặt trời tỏa nắng xuống vạn vật, tạo nên cảnh tượng tuyệt vời: Sương và mây bao phủ đỉnh núi Hương Lô, nắng chiếu xuống, hơi nước bốc lên như khói, phản quang ánh sáng mặt trời, chuyển thành màu tía lung linh, huyền ảo…

⇒ Lí Bạch miêu tả sự sống động của khung cảnh trên bằng động từ sinh và coi mặt trời là chủ thể làm cho mọi vật trở nên sống động.

Dao khan bộc bố quải tiền xuyên (Xa trông dòng thác trước sông này)

→ Thể hiện cảm nhận ban đầu của nhà thơ trước hình ảnh tuyệt đẹp của thác nước. Từ góc độ và tầm nhìn xa rộng, Lí Bạch thấy thác nước giống như một dải lụa trắng khổng lồ treo dọc trên vách núi.

⇒ Sự kết hợp hài hoà giữa màu tía của khói sương và màu vàng của nắng, màu xanh thẫm của đỉnh núi và màu trắng xoá của dòng thác tạo nên một khung cảnh kì vĩ có một không hai.

Phi lưu trực há tam thiên xích (Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước)

→ Đặc tả độ cao của ngọn núi Hương Lô và thác nước. Hình ảnh dòng thác tuôn từ đỉnh núi đầy mây phủ xuống chân núi thật hoành tráng và ấn tượng.

Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên

(Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây)

→ Sự liên tưởng độc đáo bắt nguồn từ hiện thực kết hợp với trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ. So sánh thác nước với dải Ngân Hà tuột khỏi mây là một so sánh thân tình khiến câu thơ được đánh giá là danh cú (câu thơ nổi tiếng để đời). ⇒ Cảm giác kì diệu của nhà thơ khi ngắm thác núi Lư thể hiện rất rõ ở câu thơ này.

3. Kết bài

Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ của thác nước Lư Sơn, đồng thời thể hiện tình yêu thiên nhiên đằm thắm của Thi tiên Lí Bạch.

Đây cũng là điểm son trong sự nghiệp sáng tác của ông, là niềm tự hào của thơ Đường luật Trung Hoa.

Lí Bạch (701 – 762), là nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đời Đường. Tên chữ của ông là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cự sĩ, quê ở tĩnh Cam Túc. Lên năm tuổi, ông cùng gia đình định cư ở làng Thanh Liên, huyện Xương Long thuộc đất Miên Châu (Tứ Xuyên). Từ lúc còn trẻ, Lí Bạch đã thích đi du lịch khắp nơi, tìm cách tạo lập công danh sự nghiệp. Suốt đời, ông ấp ủ lí tưởng cứu đời, giúp dân nhưng chưa bao giờ toại nguyện. Lí Bạch có tài sáng tác thơ và ông được người hâm mộ đặt cho biệt hiệu là Thi tiên. Thơ ông biểu hiện một tâm hồn tự do phóng khoáng. Hình ảnh trong thơ tươi sáng, kì vĩ, ngôn ngữ tự nhiên, điêu luyện. Lí Bạch viết nhiều bài rất hay về đề tài chiến tranh, thiên nhiên, tình yêu và tình bạn. Trong mảng viết về thiên nhiên, Xa ngắm thác núi Lư là bài thơ độc đáo có giá trị muôn đời.

Phiên âm chữ Hán:

Vọng Lư Sơn bộc bố Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên. Phi lưu trực há tam thiên xích, Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

Dịch nghĩa:

Xa ngắm thác núi Lư Mặt trời chiếu núi Hương Lô Sinh làn khói tía Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước Thác chảy như bay đổ thẳng xuống ba nghìn thước Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây.

Dịch thơ:

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.

Tên chữ Hán của bài thơ là Vọng Lư Sơn bộc bố, có nghĩa là trông từ xa, thác nước trên núi Lư chảy xuống như một tấm vải treo trước mặt. Tên bài thơ đã thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận cảnh vật và tài hoa của thi sĩ.

Với những hình ảnh tráng lệ, huyền ảo, bài thơ đã miêu tả một cách sinh động vẻ đẹp nhìn từ xa của thác nước chảy từ đỉnh Hương Lô thuộc dãy núi Lư; qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên đằm thắm và phần nào bộc lộ tính cách mạnh mẽ, khoáng đạt của tác giả.

Nhà thơ ngắm thác nước từ xa. Từ điểm nhìn đó, nhà thơ không thể miều tả một cách chi tiết, tỉ mỉ nhưng lại có lợi thế là được thưởng thức toàn cảnh và ông đã miêu tả thành công vẻ đẹp độc đáo của thác Lư Sơn.

Câu thứ nhất:

Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên (Nắng rọi Hương Lô khói tía bay)

Vai trò của nó là phác họa ra cái phông nền hoành tráng, tương xứng với hình ảnh phi thường của dòng thác. Ngọn Hương Lô hiện lên với những đỉnh núi cao chất ngất, quanh năm mây mù bao phủ. Người đời đã đặt tên cho nó là Hương Lô (16 hương). Lí Bạch không phải là người đầu tiên phát hiện ra nét đặc trưng đó. Ba trăm năm trước, trong Lư Sơn kí (ghi chép về Lư Sơn), nhà sư Tuệ Viễn (334 – 417) đã tả: Khí bao trùm trên đỉnh Hương Lô mịt mù như hương khói. Cái mới mà Lí Bạch đem tới cho Hương Lô là miêu tả vẻ đẹp của nó dưới ánh nắng rực rỡ của mặt trời. Hơi nước bốc lên, phản quang ánh sáng mặt trời, đã chuyển thành màu tía lung linh, huyền ảo. Sự thực là hơi khói đã có từ trước, nói đúng hơn là tồn tại thường xuyên, song dưới ngòi bút của Lí Bạch, với động từ sinh, ánh sáng mặt trời xuất hiện như chủ thể làm cho mọi vật trở nên sống động.

Những vẻ đẹp khác nhau của thác nước được tác giả miêu tả trong ba câu tiếp theo:

Dao khan bộc bố quải tiền xuyên Phi lưu trực há tam thiên xích Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên. (Xa trông dòng thác trước sông này Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây).

Câu Dao khan bộc bố quải tiền xuyên thể hiện cảm nhận ban đầu của nhà thơ trước hình ảnh thác nước được ngắm từ xa. Qua cái nhìn đầy thi vị của Lí Bạch, thác nước vốn tuôn đổ ầm ầm từ đỉnh núi cao xuống đã biến thành một dải lụa trắng khổng lồ được treo trên vách núi. Trên đỉnh núi khói tía bốc mịt mù, dưới chân núi dòng sông tuôn chảy, choáng giữa là thác nước treo cao như dải lụa bạch, quả là một bức tranh hùng vĩ, hoành tráng!

Câu này còn có một cách hiểu khác. Quải là treo, tiền xuyên là dòng sông phía trước. Có người cho rằng dòng sông phía trước không phải là vị trí nơi thác đổ xuống, mà là hình ảnh dùng để so sánh với dòng thác nhìn từ xa. Nếu vậy thì cả câu có nghĩa là : Đứng xa trông ngọn thác giống như một dòng sông treo trước mặt. Thật là một hình tượng tuyệt mĩ được tạo nên bởi sức liên tưởng vô hạn của nhà thơ.

Ở bản dịch thơ, câu Xa trông dòng thác trước sông này vì đánh rơi mất chữ treo là chữ quan trọng nhất của câu thơ nên ấn tượng do hình ảnh dòng thác gợi ra biến mất. Trực tiếp tả thác song đồng thời tác giả lại giúp người đọc hình dung được thế núi cao và sườn núi dốc đứng, nên mới có cảnh Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước thật ấn tượng như vậy.

Vẻ đẹp huyền ảo của thác nước được nhà thơ miêu tả trong câu kết. Tác giả đã tỏ ra xuất sắc trong việc dùng các từ Nghi (ngỡ là), lạc (rơi xuống) và hình ảnh Ngân Hà. Ví thác nước giống như dải Ngân Hà tuột khỏi mây là một so sánh độc đáo đến mức kì lạ. Sông Ngân là dải sáng màu trắng vắt ngang bầu trời do các ngôi sao li ti hợp thành, thường nhìn thấy trong những đêm trời quang. Sự xuất hiện của hình ảnh Ngân Hà ở cuối bài đã được chuẩn bị từ hai câu đầu. Vì ngọn núi, Hương Lô luôn có mây mù bao phủ nên nhìn xa, thác nước đã được hình dung như một tấm lụa bạch lớn treo rủ, khiến người nhìn dễ liên tưởng tới dải Ngân Hà từ chân mây tuôn xuống. Mặt khác, trong thần thoại truyền thuyết Trung Hoa, Ngân Hà cũng đã được quan niệm như một dòng sông thực sự. Chữ lạc dùng rất đắt vì dòng Ngân Hà vốn nằm theo chiều ngang vắt qua bầu trời, còn dòng thác lại đổ theo chiều thẳng đứng từ đỉnh núi cao xuống mặt đất. Câu thơ cuối cùng này được coi là danh cú (câu thơ, câu văn hay nổi tiếng) vì đã kết hợp được một cách tài tình yếu tố chân thực và yếu tố huyền ảo, đặc tả được cảm giác kì diệu do hình ảnh thác nước gợi lên trong tâm khảm nhà thơ và để lại dư vị đậm đà trong lòng người đọc.

Bài thơ Xa ngắm thác núi Lư của Lí Bạch ca ngợi một danh thắng của đất nước Trung Hoa. Nhà thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp kì vĩ của thác nước Lư Sơn và gửi gắm vào đó tình yêu thiên nhiên đằm thắm của mình. Văn tức là người. Bài thơ hé lộ cho ta thấy phần nào tầm hồn phong phú, trái tim nhạy cảm và tính cách mạnh mẽ, phóng khoang của bậc Thi tiên họ Lí.

HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM

Câu 1: Chủ đề của bài thơ “Xa ngắm thác núi Lư” là gì? a. Cảnh đẹp hùng vĩ của thác núi Lư. b. Tâm hồn hoà nhập với thiên nhiên của nhà thơ c. Cảnh thác núi Lư trong sự tưởng tượng phóng khoáng của thi nhân. d. Cả a,b,c đều sai

Câu 2: Nhà thơ Lý Bạch được mệnh danh là gì? Chọn phương án trả lời đúng: a. Thánh thơ b. Thần thơ c. Tiên thơ d. Cả a, b, c đều sai

Câu 3: Bài thơ “Xa ngắm thác núi Lư” được viết theo thể thơ nào? a. Thất ngôn bát cú b. Ngũ ngôn tứ tuyệt c. Ngũ ngôn bát cú. d. Thất ngôn tứ tuyệt Bài tập trắc nghiệm

Câu 4: Vì sao nhân dân gọi ngọn núi cao của dãy Lư Sơn là Hương Lô? Chọn phương án trả lời đúng: a. Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh ra khói tía nên gọi là Hương Lô b. Núi cao có mây mù che phủ, trông xa như chiếc lò hồng nên gọi là Hương Lô c. Mặt trời chiếu núi Hương Lô, mây mù che phủ nên gọi là Hương Lô d. Cả a, b, c đều sai

Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư

Soạn bài Xa ngắm thác núi Lư – Lí Bạch

Bố cục (2 phần) :

– Câu đầu : Tả núi Hương Lô

– 3 câu sau : Tả thác nước núi Lư

Câu 1 ( trang 111 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Từ “vọng” với ý nghĩa là trông “xa”, dao là “xa”

– Tác giả đứng từ xa để nhìn thác nước núi Lư

– Vị trí này không thể quan sát chi tiết, cụ thể nhưng có thể nhìn bao quát, tổng thể

→ Cái đẹp của thác nước là cái đẹp được quan sát và miêu tả từ xa

Câu 2 (Trang 111 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Nhà thơ Lí Bạch đã miêu tả thác nước vào lúc có mặt trời chiếu rọi:

+ Thác nước bọt tung, nước tỏa ra sương khói, mặt trời chiếu xuống tạo ra những tia khói huyền ảo

+ Thác nước trở nên đẹp hơn nhờ ánh nắng mặt trời, giống như lư hương khổng lồ tỏa lên bầu trời

– Ý nghĩa: Khi tả núi Hương Lô có tác dụng làm nổi bật thác nước lung linh, huyền ảo của tạo hóa.

Câu 3 (trang 111 sgk ngữ văn 7 tập 1)

– Câu thơ thứ hai:

+ Nhà thơ đứng từ xa quan sát thấy thác nước tuôn xuống ầm ầm biến thành dải lụa trắng rủ xuống yên ắng

+ Chữ “quải” biến cái động thành tĩnh, thống nhất với cảm nhận của tác giả

– Câu thứ ba: cảnh vật từ tĩnh chuyển thành động bởi chữ “treo”

+ Hình ảnh dòng thác mờ nhạt và ảo giác về dải ngân hà ở cuối câu trở nên thiếu cơ sở

+ Thế núi cao và sườn núi dốc đứng, tạo ra dòng chảy mạnh, huyền ảo

+ Miêu tả sự hùng vĩ của thác nước trong trạng thái động ở tốc độ chảy nhanh, mạnh

→ Một dòng thác mạnh, nhanh, dốc

– Câu thơ thứ tư:

+ Nhà thơ đứng giữa ranh giới giữa hư với thực

+ Tưởng tượng ra con thác giống như dải ngân hà giống như hàng ngàn ngôi sao lạc khỏi vũ trụ để rơi xuống

+ Tác giả gợi lên cảm xúc kì diệu trong lòng bạn đọc khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp hiếm có

Câu 4 (Trang 112 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Lí Bạch là một trong số những nhà thơ nổi tiếng đời Đường được mệnh danh là thi tiên

+ Tâm hồn ông luôn rộng mở, phóng khoáng, tự do

+ Ông yêu và trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của tự nhiên, quê hương đất nước

+ Những câu thơ của ông thể hiện sự tài hoa và tình cảm tha thiết với tự nhiên

Câu 5 (trang 112 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Trong hai cách giải thích thì em thích cách dịch trong phần dịch nghĩa vì:

– Nêu được điểm vẻ đẹp của dòng thác giống như dòng sông treo lơ lửng trên không trung tạo ra vẻ đẹp hùng vĩ

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nội Dung Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư

Nội Dung Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư, Nội Dung Bài Thơ Xa Ngắm Thác Núi Lư, Ngữ Văn 7 Văn Bản Xa Ngắm Thác Núi Lư, Bài Thơ Xa Ngắm Thác Núi Lư, Nội Dung Bài Ngắm Trăng, Câu Thơ Cuối Trăng Nhòm Khe Cửa Ngắm Nhà Thơ Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, ở Bài Thơ Ngắm Trăng Bác Ngắm Trăng Trong Hoàn Cảnh Nào, Nội Dung Bài Vượt Thác, Luận Văn Thạc Sĩ Đại Học Xây Dựng, Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng, Thủ Tục Xin Khai Thác Mỏ Đá Xây Dựng, Thạc Sỹ Mỹ Thuật ứng Dụng, Các Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng, Luan Van Thac Sy Xay Dung, Quy Chế Sử Dụng Phí ủy Thác Nhcsxh Của Hội Phụ Nữ, Luận Văn Thạc Sỹ Đề Tài Quản Lý Và Sử Dụng Vốn, Đề Cương ủy Thác Qlda Xây Dựng, Thủ Tục Cấp Phép Khai Thác Sử Dụng Gỗ Làm Nhà, Luận Văn Thạc Sĩ Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng, Luận Văn Thạc Sĩ Hợp Đồng Tín Dụng, Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng Đảng, Đề án Khai Thác Sử Dụng Nước Mặt, Luận Văn Thạc Sĩ Hướng ứng Dụng, Luận Văn Thạc Sĩ Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quy Định Đào Tạo Trình Độ Thạc Sĩ (áp Dụng Từ Cao Học Khóa 24), Hướng Dẫn Xây Dựng Đề Cương Nghiên Cứu Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ, Qui Định Chung Về Xây Dựng Đề Cương, Viết Và Bảo Vệ Luận Văn Thạc Sỹ, Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng Chiến Lược Kinh Doanh, Luận Văn Thạc Sĩ Về Cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất, Luận Văn Thạc Sĩ Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Dự An Đầu Tư Xây Dựng, Tam Thất Ngâm Mật Ong Đắp Mặt, Tam Thất Ngâm Mật Ong, Truyện Ma Suy Ngẫm, Đồ án Tốt Nghiệp Ngầm, Bài Văn Mẫu Chinh Phụ Ngâm, 8 Câu Thơ Đầu Bài Chinh Phụ Ngâm, Bài Thơ Ngắm Trăng, Dàn ý 8 Câu Đầu Chinh Phụ Ngâm, Chất Ngấm, Chinh Phụ Ngâm, Dàn ý 16 Câu Đầu Chinh Phụ Ngâm, Văn Bản Ngắm Trăng, Chinh Phụ Ngâm Pdf, Quy Chuẩn Nước Ngầm, Luật Ngầm Của Tuệ Nghi, 2 Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Dàn ý 8 Câu Giữa Bài Chinh Phụ Ngâm, Dàn ý 8 Câu Cuối Chinh Phụ Ngâm, Truyện Cười Suy Ngẫm, Don Xin Mien Kiem Tra The Luc Ngam, 8 Câu Thơ Cuối Bài Chinh Phụ Ngâm, Hợp Đồng ủy Thác Khai Thac Khoáng Sản, Thảo Dược Ngâm Rượu, Câu Thơ Nào Nói Lên Hoàn Cảnh Ngắm Trăng Của Bác, Truyện Cười Đáng Suy Ngẫm, Phân Tích Chinh Phụ Ngâm, Giấy Phép Khai Thác Khoáng Sản Của Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Và Vật Liệu Xây Dựng Đồng Tháp Ngày 17/8/, Giấy Phép Khai Thác Khoáng Sản Của Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Và Vật Liệu Xây Dựng Đồng Tháp Ngày 17/8/, Giấy Phép Khai Thác Khoáng Sản Của Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Và Vật Liệu Xây Dựng Đồng Tháp Ngày 17/8/, So Sánh Chinh Phụ Ngâm Và Cung Oán Ngâma, Phân Tích 2 Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu (24229), Quy Chuẩn Chất Lượng Nước Ngầm, Phân Tích 8 Câu Cuối Bài Chinh Phụ Ngâm, Ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó Đức Chúa Giê Sự Giáo Phận Hà Nội, Tiêu Chuẩn Quan Trắc Mực Nước Ngầm, Câu Thơ Dịch Sát Nghĩa Nhất Trong Bài Thơ Ngắm Trăng Là Câu Nào, Giáo Trình Triết Học: Dùng Trong Đào Tạo Trình Độ Thạc Sĩ, Tiến Sĩ Các Ngành Khoa Học Xã Hội Và Nhân, Giáo Trình Triết Học: Dùng Trong Đào Tạo Trình Độ Thạc Sĩ, Tiến Sĩ Các Ngành Khoa Học Xã Hội Và Nhân, Hãy Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Phép Đối Trong Hai Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật: Nghiên Cứu ứng Dụng Bộ Điều Khiển Pid Và Mở Để Điều Khiển Hệ Thống Pin Mặ, Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật: Nghiên Cứu ứng Dụng Bộ Điều Khiển Pid Và Mở Để Điều Khiển Hệ Thống Pin Mặ, Người Lái Xe Phải Làm Gì Khi Quay Đầu Xe Trên Cầu, Gầm Cầu Vượt, Đường Ngầm Hay Khu Vực Đường Bộ, Thạc Sỹ Nội Thất, Thạc Sĩ Y Học, Quy Chế Đào Tạo Thạc Sĩ, ủy Thác Đầu Tư, Mức Học Phí Thạc Sĩ, Các Phụ Lục Của Quy Chế Đào Tạo Thạc Sĩ, Mẫu Số 01 ủy Thác, Y Lam Cai Thac, Hợp Đồng ủy Thác Là Gì, Luận Văn Thạc Sĩ Xã Hội Học, Mẫu Giấy ủy Thác, Luận Văn Thạc Sĩ Đại Học Y Hà Nội, Luận Văn Thạc Sĩ Về Trẻ Em, Luận Văn Thạc Sĩ Y Học Hà Nội, Bản Tóm Tắt Luận Văn Thạc Sĩ, Luận Văn Thạc Sĩ Hóa Học, Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ, Bìa Luận Văn Thạc Sĩ Ueh, Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Anh Đại Học Hà Nội, Khai Thác Cát, Mẫu Tóm Tắt Luận Văn Thạc Sĩ, Lời Cảm ơn Của Luận Văn Thạc Sĩ, Mẫu Đơn Xin Khai Thác Gỗ, Mẫu Đơn Xin Khai Thác Gỗ Làm Nhà, Mua Luận Văn Thạc Sĩ ở Đâu, Hợp Đồng ủy Thác Vốn Đầu Tư, Các Luận Văn Thạc Sĩ,

Nội Dung Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư, Nội Dung Bài Thơ Xa Ngắm Thác Núi Lư, Ngữ Văn 7 Văn Bản Xa Ngắm Thác Núi Lư, Bài Thơ Xa Ngắm Thác Núi Lư, Nội Dung Bài Ngắm Trăng, Câu Thơ Cuối Trăng Nhòm Khe Cửa Ngắm Nhà Thơ Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, ở Bài Thơ Ngắm Trăng Bác Ngắm Trăng Trong Hoàn Cảnh Nào, Nội Dung Bài Vượt Thác, Luận Văn Thạc Sĩ Đại Học Xây Dựng, Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng, Thủ Tục Xin Khai Thác Mỏ Đá Xây Dựng, Thạc Sỹ Mỹ Thuật ứng Dụng, Các Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng, Luan Van Thac Sy Xay Dung, Quy Chế Sử Dụng Phí ủy Thác Nhcsxh Của Hội Phụ Nữ, Luận Văn Thạc Sỹ Đề Tài Quản Lý Và Sử Dụng Vốn, Đề Cương ủy Thác Qlda Xây Dựng, Thủ Tục Cấp Phép Khai Thác Sử Dụng Gỗ Làm Nhà, Luận Văn Thạc Sĩ Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng, Luận Văn Thạc Sĩ Hợp Đồng Tín Dụng, Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng Đảng, Đề án Khai Thác Sử Dụng Nước Mặt, Luận Văn Thạc Sĩ Hướng ứng Dụng, Luận Văn Thạc Sĩ Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quy Định Đào Tạo Trình Độ Thạc Sĩ (áp Dụng Từ Cao Học Khóa 24), Hướng Dẫn Xây Dựng Đề Cương Nghiên Cứu Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ, Qui Định Chung Về Xây Dựng Đề Cương, Viết Và Bảo Vệ Luận Văn Thạc Sỹ, Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng Chiến Lược Kinh Doanh, Luận Văn Thạc Sĩ Về Cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất, Luận Văn Thạc Sĩ Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Dự An Đầu Tư Xây Dựng, Tam Thất Ngâm Mật Ong Đắp Mặt, Tam Thất Ngâm Mật Ong, Truyện Ma Suy Ngẫm, Đồ án Tốt Nghiệp Ngầm, Bài Văn Mẫu Chinh Phụ Ngâm, 8 Câu Thơ Đầu Bài Chinh Phụ Ngâm, Bài Thơ Ngắm Trăng, Dàn ý 8 Câu Đầu Chinh Phụ Ngâm, Chất Ngấm, Chinh Phụ Ngâm, Dàn ý 16 Câu Đầu Chinh Phụ Ngâm, Văn Bản Ngắm Trăng, Chinh Phụ Ngâm Pdf, Quy Chuẩn Nước Ngầm, Luật Ngầm Của Tuệ Nghi, 2 Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Dàn ý 8 Câu Giữa Bài Chinh Phụ Ngâm, Dàn ý 8 Câu Cuối Chinh Phụ Ngâm, Truyện Cười Suy Ngẫm, Don Xin Mien Kiem Tra The Luc Ngam,