Top 3 # Youtube Luat Su Nguyen Van Dai Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Tailieu.vn: Sách Luat Su Nguyen Huu Tho

Tác phẩm khắc họa chân dung và “hành trình yêu nước “của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ – một nhà trí thức tiêu biểu của miền Nam- một tên tuổi lớn gắn liền với các sự kiện lớn của đất nước và các phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam từ những năm 1950 , như : 9 tháng giêng, Phái đoàn đại biểu các giới, Phong trào Bảo vệ Hòa bình, Ngày toàn quốc chống Mỹ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; một vị Chủ tịch Quốc hội nước VN thống nhất , Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc ,…luôn gần dân, vì dân, tâm huyết và trăn trở với việc đại đoàn kết toàn dân và xây dựng nhà nước pháp quyền .

Tác phẩm có 3 phần chính :

1/ Biên niên về cuộc đời hoạt động của LS Nguyễn Hữu Thọ;

2/ 14 chương về hành trình lịch sử của LS Nguyễn Hữu Thọ, từ 1910 đến 1996 + Các Box trích lời của các nhân chứng lịch sử về LS NHT khẳng định mạnh mẽ và khách quan về tầm vóc và nhân cách, sự nghiệp để lại của LS NHT trong mỗi giai đoạn, trong cả quá trình hoạt động của LS Nguyễn Hữu Thọ.

3/ Phần Phụ lục gồm các bài , thư viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi LS Nguyễn Hữu Thọ và Mặt trận DTGPMNVN, một số bài viết của LS Nguyễn Hữu Thọ, thư mục tham khảo.

Qua tác phẩm, chúng ta thấy được hình ảnh ” người hùng” của một thế hệ trẻ những năm 50, một tầm vóc lớn về tài năng , đức độ của vị Chủ tịch Mặt trận DTGPMNVN, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc VN,…và hiểu vì sao ông trở thành ngọn cờ tập hợp, có sức mạnh hiệu triệu và đoàn kết các tầng lớp đồng bào trong cả thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, cùng những tâm huyết của ông trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, trong nỗ lực nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Luat Su Mai Thanh Duc

CÂU HỎI LUẬT PHÁP – TUẦN THỨ 14, 2018

1. LÁI XE TRONG LÚC SAY RƯỢU TẠI TIỂU BANG NAM ÚC NẾU BẮT, SẼ BỊ PHÁT THẾ NÀO?

Luật sư Đức trả lời: – Tùy theo mức độ rượu trong máu, ngoài việc bị phạt tiền theo quy định trong điều khoản 47B(1) của Đạo Luật Giao Thông (Road Traffic Act) 1961, Toà Án sẽ phải áp dụng các hình phạt về thời hạn mất bắng lái theo quy định của điều khoản 47B(3), với nội dung tóm lược như sau: 1. Nếu mức độ rượu trong máu từ 0.05 – 0.079 [trong 100 millilitres máu]: tối thiểu là 3 tháng; 2. Nếu mức độ rượu trong máu từ 0.08 – 0.0149 [trong 100 millilitres máu]: tối thiểu là 6 tháng; 3. Nếu mức độ rượu trong máu từ 0.015 trở lên: tối thiểu là 12 tháng;

Hình phạt cho những lần tái phạm sẽ nặng hơn nhiều.

ROAD TRAFFIC ACT 1961 – SECT 47B 47B—Driving while having prescribed concentration of alcohol in blood

(1) A person must not—

(a) drive a motor vehicle; or

(b) attempt to put a motor vehicle in motion,

while there is present in his or her blood the prescribed concentration of alcohol as defined in section 47A.

Penalty:

(a) for a first offence—

(i) being a category 1 offence—$1 100;

(ii) being a category 2 offence—a fine of not less than $900 and not more than $1 300;

(iii) being a category 3 offence—a fine of not less than $1 100 and not more than $1 600;

(b) for a second offence—

(i) being a category 1 offence—$1 100;

(ii) being a category 2 offence—a fine of not less than $1 100 and not more than $1 600;

(iii) being a category 3 offence—a fine of not less than $1 600 and not more than $2 400;

(c) for a third or subsequent offence—

(i) being a category 1 offence—$1 100;

(ii) being a category 2 offence—a fine of not less than $1 500 and not more than $2 200;

(iii) being a category 3 offence—a fine of not less than $1 900 and not more than $2 900.

(3) If a court convicts a person of an offence against subsection (1), the following provisions apply:

(a) the court must order that the person be disqualified from holding or obtaining a driver’s licence—

(i) in the case of a first offence—

(AA) being a category 1 offence—for such period, being not less than 3 months, as the court thinks fit;

(A) being a category 2 offence—for such period, being not less than 6 months, as the court thinks fit;

(B) being a category 3 offence—for such period, being not less than 12 months, as the court thinks fit;

(ii) in the case of a second offence—

(A) being a category 1 offence—for such period, being not less than 6 months, as the court thinks fit;

(B) being a category 2 offence—for such period, being not less than 12 months, as the court thinks fit;

(C) being a category 3 offence—for such period, being not less than 3 years, as the court thinks fit;

(iii) in the case of a third offence—

(A) being a category 1 offence—for such period, being not less than 9 months, as the court thinks fit;

(B) being a category 2 offence—for such period, being not less than 2 years, as the court thinks fit;

(C) being a category 3 offence—for such period, being not less than 3 years, as the court thinks fit;

(iv) in the case of a subsequent offence—

(A) being a category 1 offence—for such period, being not less than 12 months, as the court thinks fit;

(B) being a category 2 offence—for such period, being not less than 2 years, as the court thinks fit;

(C) being a category 3 offence—for such period, being not less than 3 years, as the court thinks fit;

(b) the disqualification prescribed by paragraph (a) cannot be reduced or mitigated in any way or be substituted by any other penalty or sentence unless, in the case of a first offence, the court is satisfied, by evidence given on oath, that the offence is trifling, in which case it may order a period of disqualification that is less than the prescribed minimum period but not less than one month;

(d) if the person is the holder of a driver’s licence—the disqualification operates to cancel the licence as from the commencement of the period of disqualification;

(e) the court may, if it thinks fit to do so, order that conditions imposed by section 81A or 81AB of the Motor Vehicles Act 1959 on any driver’s licence issued to the person after the period of disqualification be effective for a period greater than the period prescribed by that section.

(4) In determining whether an offence is a first, second, third or subsequent offence for the purposes of this section (other than subsection (5)), any previous drink driving offence or drug driving offence for which the defendant has been convicted will be taken into account, but only if the previous offence was committed within the prescribed period immediately preceding the date on which the offence under consideration was committed.

(5) If a person aged 16 years or more is alleged to have committed a category 1 offence that is a first offence, the person cannot be prosecuted for that offence unless he or she has been given an expiation notice under the Expiation of Offences Act 1996 in respect of the offence and allowed the opportunity to expiate the offence in accordance with that Act.

(6) In determining whether a category 1 offence is a first offence for the purposes of subsection (5), any previous drink driving offence or drug driving offence for which the defendant has been convicted or that the defendant has expiated will be taken into account, but only if the previous offence was committed or alleged to have been committed within the prescribed period immediately preceding the date on which the offence under consideration was allegedly committed.

The Luat Su Cao Quang Anh Ep

Streaming + Download

Includes high-quality download in MP3, FLAC and more. Paying supporters also get unlimited streaming via the free Bandcamp app.

Purchasable with gift card

 

name your price

 

Truong Chinh Tri Nguyen Van Cu Tinh Bac Ninh

Những điểm mới của Nghị định 04/2015/NĐ-CP về thực hiện dân chủ

Từ ngày 25/02/2015, Nghị định số 04/2015/NĐ-CP, ngày 09/01/2015 của Chính phủ “Về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập” bắt đầu có hiệu lực thi hành và thay thế Nghị định số 71/1988/NĐ-CP, ngày 08/9/1988 của Chính phủ “Về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan”. Ban Chỉ đạo Trung ương về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã có Công văn số 40-CV/BCĐTW, ngày 02/02/2015 và Ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tỉnh Bắc Ninh cũng đã có Công văn số 03-CV/BCĐ ngày 04/3/2015 “Về việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ”. Website Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ đăng tải toàn văn Nghị định số 04/2015/NĐ-CP và giới thiệu những điểm mới của Nghị định để bạn đọc nghiên cứu, tìm hiểu

áp dụng đối với cán bộ, công chức quy định tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện; Viên chức quy định tại Điều 2 Luật Viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập và người làm việc theo chế độ hợp đồng quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP; Cán bộ, công chức cấp xã thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan theo quy định tại Nghị định này và các quy định tại Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

Như vậy, Nghị định 04 đã quy định cụ thể đối tượng áp dụng cụ thể là cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (không chung chung là cơ quan như Nghị định 71); bổ sung cán bộ, công chức cấp xã là đối tượng áp dụng mới của Nghị định đã tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ suốt 16 năm qua.

Theo Nghị định, Dân chủ trong nội bộ cơ quan, đơn vị, bao gồm:

– Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện dân chủ trong hoạt động nội bộ của cơ quan, đơn vị;

– Những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết;

– Những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan quyết định;

– Những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra.

Tên gọi Hội nghị cán bộ, công chức theo Nghị định 71, nay được đổi thành Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức thể hiện đầy đủ đối tượng áp dụng của Nghị định, tránh trường hợp mỗi đơn vị gọi mỗi tên khác nhau như thực tế trước đây. Theo đó, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chủ trì, phối hợp với Công đoàn cơ quan, đơn vị tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị mỗi năm một lần vào cuối năm. Khi có một phần ba cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị hoặc BCH Công đoàn cơ quan, đơn vị yêu cầu hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị thấy cần thiết thì triệu tập hội nghị cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị bất thường. Thành phần dự hội nghị bao gồm toàn thể hoặc đại biểu cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị.