Top 8 # Zing.vn Pháp Luật Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Văn Bản Pháp Luật – Bdif.vn

Văn bản Quỹ đầu tư phát triển

359/QĐ-ĐTPT 06/08/2015 Quy trình nghiệp vụ thẩm định cho vay của Quỹ ĐTPT Bình Dương Quỹ ĐTPT Bình Dương

437A-TB-ĐTPT 01/12/2020 Thông báo lãi suất cho vay Quỹ ĐTPT Bình Dương

288/QĐ-HĐQL 15/10/2014 Quyết định về việc ban hành Quy chế đầu tư trực tiếp và góp vốn thành lập doanh nghiệp của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bình Dương Quỹ ĐTPT Bình Dương

76-TB-ĐTPT 23/02/2017 Thông báo về việc áp dụng lãi suất cho vay theo Quyết định số 04/2016/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Dương Quỹ ĐTPT Bình Dương

189/QĐ-HĐQL 14/06/2018 Quyết định về việc ban hành Quy chế cho vay của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bình Dương Quỹ ĐTPT Bình Dương

323/QĐ-HĐQL 22/11/2018 Quyết định về việc ban hành Quy chế nhận ủy thác cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị – nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2020 Quỹ ĐTPT Bình Dương

2038-QĐ-UBND 20/08/2021 Quyết định về việc kiện toàn Hội đồng quản lý Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bình Dương UBND tỉnh Bình Dương

Văn bản Quỹ phát triển đất

3343/QĐ-UBND 01/11/2010 Quyết định về việc phê duyệt Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển đất tỉnh Bình Dương UBND tỉnh Bình Dương

2040-QĐ-UBND 20/08/2021 Quyết định về việc kiện toàn Hội đồng quản lý Quỹ Phát triển đất tỉnh Bình Dương UBND tỉnh Bình Dương

Văn bản Quỹ phát triển nhà

2900/QĐ-UBND 24/10/2017 Quyết định về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển nhà ờ tỉnh Bình Dương UBND tỉnh Bình Dương

2039-QĐ-UBND 20/08/2021 Quyết định về việc kiện toàn Hội đồng quản lý Quỹ Phát triển nhà ở tỉnh Bình Dương UBND tỉnh Bình Dương

Văn bản lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng

3597-QĐ-UBND 26/12/2016 UBND tỉnh Bình Dương

Văn bản Quỹ bảo lãnh tín dụng DN nhỏ và vừa

385/QĐ-HĐQL 31/12/2014 Quy chế bảo lãnh tín dụng cho các danh nghiệp nhỏ và vừa UBND tỉnh Bình Dương

24/2014/QĐ-UBND 09/07/2014 Quyết định Ban hành Quy định bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương UBND tỉnh Bình Dương

Văn bản khác

147/2020/NĐ-CP 18/12/2020 Nghị định về việc Quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Đầu tư Phát triển Địa phương Chính phủ

1568/QĐ-UBND 30/06/2014 Quyết định về việc Ban hành điều chỉnh Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ ĐTPT tỉnh Bình Dương UBND tỉnh Bình Dương

28/2014/TT-BTC 25/02/2014 Thông tư hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính của Quỹ đầu tư phát triển địa phương Bộ Tài Chính

37/2013/NĐ-CP 22/04/2013 Nghị định số 37/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 138/2007/NĐ-CP Chính phủ

Huong Dan Choi Zing Play

Cách chơi

Đặt cược

Sau khi vào phòng, người chơi có thể đặt cược hoặc không tùy thích.

Người đầu tiên vào bàn sẽ là người có quyền đặt cược số tiền cho cả bàn.

Lưu ý: Hãy nhớ đặt cược trước khi nhấn vào nút sẵn sàng, nếu không bạn sẽ không được cược ở ván đó nữa.

Nhấp vào 1 trong 4 loại tiền để đặt cược.

Sẵn sàng

Bạn có thể giữ chuột trái để kéo thả, hoán đổi vị trí những quân bài.

Bạn nhớ xếp xong bài trước khi hết giờ nếu không muốn bị Binh Lủng.

Ấn nút này khi bạn đã xếp xong bài:

Nhấn nút này nếu muốn xếp lại bài:

Cách sắp bài

Bạn sẽ xếp 13 lá bài thành 3 chi với số bài ở mỗi chi là 3 – 5 – 5

Chi trên cùng

Gồm 3 lá bài. Có 3 loại và theo thứ tự giảm dần như sau:

Xám chi: 3 lá bài cùng giá trị

Dzách: 2 lá bài có cùng giá trị, 1 lá bài rác

Rác: cả 3 lá bài đều khác nhau

Chi giữa và chi cuối

Gồm 3 lá bài. Có 3 loại và theo thứ tự giảm dần như sau:

Cù lũ: 3 trong 5 lá bài cùng giá trị, và 2 lá bài còn lại cũng cùng giá trị với nhau

Thùng: 5 lá bài đồng chất

Sảnh: 5 lá bài hình thành 1 dãy liên tiếp

Xám chi: 3 trong 5 lá bài cùng giá trị và 2 lá bài còn lại khác nhau

Thú: có 2 lá bài cùng giá trị, 2 lá bài khác cũng cùng giá trị (khác với 2 lá bài trước) và 1 lá bài rác

Dzách: 2 trong 5 lá bài cùng giá trị và 3 lá bài còn lại khác nhau từng đôi một

Rác: cả 5 lá bài khác giá trị

Chú ý:

Trong tay mỗi người chơi, 3 chi phải được sắp xếp theo thứ tự tăng dần.

Chi đầu < chi giữa < chi cuối.

Nếu bài của 1 người chơi không thỏa mãn điều kiện trên, người chơi đó coi như thua cả 3 chi khi so với 1 bài bình thường khác. Gọi là Binh lủng

Cách so bài

Khi so sánh 2 lá bài, và khi xem xét 1 tập hợp bài có phải là 1 sảnh hay không, chỉ xét đến giá trị của chúng mà thôi. Thứ tự giá trị tăng dần của các lá bài như sau (2 3 4 5 6 7 8 9 10 J Q K A). Chỉ có một ngoại lệ, tập hợp (A 2 3 4 5) được cho là một tập hợp có hiệu lực với lá bài Xì được tính là lá bài có giá trị nhỏ nhất.

Khi so sánh 2 chi, loại của chúng sẽ được xem xét trước. Chi nào có loại tốt hơn sẽ tốt hơn. Nếu cả 2 chi cùng loại, các lá bài hợp thành 2 chi đó sẽ được so sánh theo thứ tự tứ diện: thứ nhất, các lá bài hình thành nên loại của chi đó, sau đó sẽ tới những lá bài thêm.

Khi so sánh bài của 2 đấu thủ, sẽ so sánh 2 chi đầu với nhau, 2 chi giữa với nhau, và 2 chi cuối cùng với nhau. Mọi chiến thắng sẽ được tính +1 và mọi thua sẽ được tính -1, với 1 vài ngoại lệ. Kết quả của 1 đấu thủ sẽ là tổng của sự thắng thua của 3 chi.

Mậu binh

Bạn sẽ thắng điểm các đối thủ còn lại mà không cần so sánh bài.

Trong trường hợp 2 hoặc nhiều người cùng mậu binh thì tùy theo các trường hợp sau, người nào mậu binh kiểu gì thì sẽ được tính kiểu đó.

Các kiểu mậu binh

Cách tính điểm

Vndoc Tải Tài Liệu, Văn Bản Pháp Luật, Biểu Mẫu Miễn Phí Trường: Quốc Tế Á Châu

VnDoc – Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí

KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM

NĂM HỌC: 2015 – 2016

SỐ THỨ TỰ

Môn: Tiếng Anh – Lớp 10

Số ký danh

Chữ ký GT 1

Chữ ký GT 2

SỐ MẬT MÃ

Chữ ký giám khảo 1

Chữ ký giám khảo 2

THÍ SINH KHÔNG VIẾT VÀO KHUNG NÀY VÌ ĐÂY LÀ PHÁCH SẼ RỌC ĐI MẤT

Question 16: A: “Let’s go to Vung Tau on the weekend” – B: “…………………..”

A. That’s a fine day B. That’s a good trip C. Yes, please D. Yes, let’s

Select the synonym of the word in bold.

Question 17: The President escaped through a secret passage underneath the parliament building.

A. answer B. hidden C. confidence D. basis

Question 18: We read newspapers and magazines which have been produced on computers.

A. born B. shaped C. begun D. manufactured

Choose the words or phrases marked A, B, C or D that are not correct in Standard English.

Question 19: When she (A) came (B) to my house (C) this morning, I (D) still slept.

Question 20: They (A) didn’t go on a picnic (B) because of (C) the weather was (D) awful.

Question 21: (A) The last time we (B) went (C) to London was (D) at September.

Question 22: My brother (A) enjoys (B) to go to the park (C) on summer (D) evenings.

Use the correct tense or form of the verb given in each sentence.

Use the correct form of the word given in each sentence.

THÍ SINH KHÔNG VIẾT VÀO KHUNG NÀY VÌ ĐÂY LÀ PHÁCH SẼ RỌC ĐI MẤT

Question 32: A. say B. tell C. talk D. speak

Question 33: A. exciting B. excites C. excited D. excite

Question 34: A. after B. until C. when D. while

Question 35: A. although B. even C. because D. so

Question 36: A. telling B. speaking C. reading D. pronouncingRead the passage carefully and choose the best answers.

The invention of the phonograph happened quite by accident. Thomas Edison moved to Menlo Park, New Jersy in 1876, where he established an industrial research laboratory. There, Edison worked on a carbon telephone transmitter to improve the existing Bell telephone system.

In that laboratory a year later, Edison invented the phonograph while he was trying to improve a telegraph repeater. He attached a telephone diaphragm to the needle in the telegraph repeater to produce a recording that could be played back. After he made some improvements to the machine, he recited “Mary Had a Little Lamb” into the machine and played his voice back to a very surprised audience.

Question 37: In what year did the invention of phonograph occur?

A. 1876 B. 1877 C. 1878 D. the article does not say

Question 38: What was Edison working on when he created the phonograph?

A. a telegraph repeater B. a telegraph diaphragm

C. a telephone repeater D. a telephone diaphragm

Question 39: According to the passage, how was the phonograph made?

A. with a telephone needle and a recorder B. from a recording of a telegraph

C. with only a telegraph repeater D. from a combination of telephone & telegraph parts

Question 40: What is the best title for the passage?

A. Thomas Edison’s Many Inventions B. Improvements in Telephone and Telegraph

C. The History of Menlo Park D. A Surprise Invention D. WRITING (0.4 x 5 = 2.0 points)

Rewrite the following sentences as directed.

Question 41: I have studied English for three years.

 I began

Question 42: It takes Minh 2 hours to do his homework every day.

 Minh spends

Question 43: What a pity! He can’t come here.

 I wish

Question 44: Let me see the pictures. You took them at Peter’s wedding. (Use Relative Clause)

Question 45: They are going to celebrate their 25 th wedding anniversary in Da Lat. (Use Passive Voice)

2. B

3. C

4. D

B. VOCABULARY AND STRUCTURES (0.2 x 27 = 5.4 points)

5. D

6. A

7. C

8. C

9. B

10. A

11. B

12. D

13. B

14. D

15. C

16. D

17. B

18. D

19. D  WAS STILL SLEEPING

20. B  BECAUSE

21. D  IN

22. B  GOING

23. ARE MADE

24. IS COMING

25. HASN’T WRITTEN

26. TRIED

27. CARELESSLY

28. CULTURAL

29. DISADVANTAGE

30. BADLY

31. PRODUCTS

C. READING (0.2 x 9 = 1.8 points)

32. B

33. C

34. B

35. C

36. D

37. B

38. A

39. D

40. D

D. WRITING (0.4 x 5 = 2.0 points)

41. I began studying/to study English three years ago.

42. Minh spends two hours doing his homework every day.

43. I wish he could come here.

44. Let me see the pictures which/that/Ø you took at Peter’s wedding.

45. Their 25 th wedding anniversary is going to be celebrated in Da Lat.

Dân Ca Dân Nhạc Vn

Chào các bạn,

Tiếp theo ” Hát Chèo”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bộ môn “Ca Trù”, một bộ môn dân ca cổ truyền lâu đời cũng độc đáo không kém với các bộ môn dân ca khác trong Dân ca Dân nhạc Việt Nam.

Ca Trù, còn được gọi là: Hát Ả Đào, Hát Cô Đầu, Hát Nhà Trò, Hát Cửa Đình, Hát Cửa Quyền, Hát Nhà Tơ, là bộ môn nghệ thuật mang tính hàn lâm, được nuôi dưỡng giữ gìn trong dân gian suốt 10 thế kỷ qua. Nhiều làng quê ở các tỉnh, thành thuộc đồng bằng Bắc bộ như Hà Nội (Phường Thái Hà), Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc… là những cái nôi của các làn điệu Ca Trù. Làng Lỗ Khê (Đông Anh – Hà Nội) dân cả làng làm nghề hát Ca Trù, kể cả khu vực Bắc miền Trung là làng Cổ Đạm – Hà Tỉnh.

Thưởng thức Ca Trù là thưởng thức Thơ và Nhạc. Trong lối hát Ca Trù, cả người hát, người đàn, người thưởng thức đều tham gia cuộc hát. Họ phối hợp ăn ý với nhau và cũng làm cho Nhạc và Thơ hoà quyện vào nhau, đưa cuộc hát đạt đến sự hoàn hảo, tao nhã, trang trọng.

Ca Trù là một lối hát cổ truyền của người Việt. Tên gọi Ca Trù cũng đã được tài liệu cổ ghi nhận. Trên các tài liệu Hán Nôm chữ ” Trù” trong ” Ca Trù” đều dùng chữ ” Trù“. Theo đó “Trù” là thẻ làm bằng tre, trên thẻ có ghi số tiền (hoặc quy định ngầm với nhau là mỗi thẻ tương ứng với một khoản tiền), dùng để thưởng cho đào và kép ngay trong khi biểu diễn thay cho việc thưởng bằng tiền mặt; cuối chầu hát sẽ căn cứ vào số thẻ mà tính tiền trả cho đào và kép hoặc giáo phường. Người quyết định việc thưởng này chính là vị quan viên (khách nghe hát), sử dụng Trống Chầu (gọi là Cầm Chầu). Đó là nguồn gốc của tên gọi Ca Trù; cũng là thuật ngữ sử dụng trong chuyên khảo này. Tuy nhiên Ca Trù, với ý nghĩa là một lối hát có dùng thẻ để thưởng như đã nói ở trên thì chỉ có ở hát Ca Trù ở đình đền, tức là Hát Thờ.

Ca Trù sử dụng ba nhạc khí đặc biệt (không chỉ về cấu tạo mà còn về cách thức diễn tấu) là đàn đáy, phách và trống chầu. Về mặt văn học Ca Trù làm nảy sinh một thể loại văn học độc đáo là Hát Nói. Đây là một bộ môn nghệ thuật ca nhạc “thính phòng” được hình thành trên nền tảng âm nhạc dân gian Bắc Bộ, người nghe cũng tham gia vào cuộc hát bằng việc Cầm Chầu. Ca Trù còn có những cái tên khác như: Hát Cửa Đình, Hát Nhà Trò (hát ở đình, đền, miếu), Hát Cửa Quyền (trong cung phủ), Hát Nhà Tơ (hát ở dinh quan, tư gia các gia đình quyền quý), Hát Ả Đào, Hát Cô Đầu (hát ở các ca quán)…

Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định Ca Trù là một bộ môn nghệ thuât lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng ca nhạc của người Việt Nam. Ca Trù gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt. Do vậy nghiên cứu Ca Trù cũng là góp phần vào việc nghiên cứu các giá trị truyền thống trong văn hóa Việt Nam.

Ca Trù là một DI SẢN VĂN HÓA ĐẶC SẮC của Việt Nam. Đặc sắc ở sự phong phú làn điệu, thể cách, cả không gian, thời gian biểu diễn và phương thức thưởng thức; đặc sắc còn vì từ cội nguồn nó gắn bó mật thiết với lễ nghi, phong tục, với sinh hoạt cộng đồng. Ca Trù làm người ta nhớ tới những tao nhân mặc khách với lối chơi ngông, chơi sang, rất tinh tế và giàu cá tính sáng tạo của những danh nhân như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà… Và cùng với đó là mối quan hệ giữa văn nhân (nhà thơ, nhà báo, họa sĩ) với Ả đào – mối quan hệ quan trọng nhất của lối thưởng thức Ca Trù. Bởi quá trình tham gia sinh hoạt Ca Trù là quá trình văn nhân sáng tạo, thể nghiệm và thưởng thức các tác phẩm của mình.

Sau năm 1945, trong một thời gian khá dài sinh hoạt Ca Trù vốn tao nhã và sang trọng trước đây đã bị hiểu lầm và đánh đồng với các sinh hoạt thiếu lành mạnh ở một số ca quán đô thị khiến cho xã hội chối bỏ và quyết loại sinh hoạt Ca Trù ra khỏi đời sống văn hóa. Ca Trù đã không được nuôi dưỡng và phát triển một cách tự nhiên, không được tôn vinh đúng mức, phải chịu tồn tại thiếu sinh khí và tàn lụi. Nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ đã phải cố quên đi nghiệp đàn hát và giấu đi lai lịch của mình.

Khoảng chục năm trở lại đây dư luận xã hội và các cơ quan thông tấn báo chí đã từng lên tiếng về nguy cơ thất truyền của Ca Trù. Nguy cơ mai một dần và vĩnh viễn mất đi Ca Trù là một nguy cơ có thực, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn Ca Trù như một vốn quý văn hóa của dân tộc. Do vậy việc cung cấp những hiểu biết sâu hơn và có căn cứ về một số vấn đề của Ca Trù, không những góp phần đáp ứng yêu cầu cấp thiết ấy mà còn góp phần vào việc phục hồi và chấn hưng nghệ thuật và sinh hoạt Ca Trù.

Tiếp theo mình có: 1 clip “Giới thiệu nghệ thuật Ca Trù”, 4 clips xuất sắc tiêu biểu của cụ Quách Thị Hồ, và 10 clips “Ca Trù” của Viện Âm Nhạc VN, do các nghệ nhân trẻ điêu luyện hiện nay trình diễn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Trong các clips mình giới thiệu đến các bạn có clip của NSND Thanh Hoài trình diễn bài “Tống Biệt” của Tản Đà trong phim “Mê Thảo Thời Vang Bóng” tuyệt hay nên mình kèm theo clip phim này để các bạn cùng xem cho vui.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Viện âm nhạc VN và vietsciences.org)

P.S. Tháng 10. 2009 cùng với “Hát Quan Họ”, “Ca Trù” được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.

Giải Nghĩa Một Số Khái Niệm Trong Hát Ca Trù (Nguyễn Đức Mậu)

(VHNA): Xứ Nghệ tự hào là một cái nôi của hát Ca trù – di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp theo xác định của UNESCO. Cổ Đạm(Nghi Xuân – Hà Tĩnh đã nổi tiếng với tư cách là nơi phát tích của Ca trù. Nguyễn Công Trứ cũng là một người Nghệ đã trở thành nghệ sỹ tài danh muôn đời vì đã làm cho Ca trù sang trọng và sáng láng trí tuệ trong không gian thẩm mỹ tinh tế và thăng hoa. Thế nhưng không phải đã có nhiều người có được những hiểu biết cơ bản về nó. VHNA giới thiệu các khái niệm cơ bản trong/của hát Ca trù để có thể giúp ích cho những người chưa có điều kiện biết vì như chúng ta đã biết: Ca trù đã từng bị phũ phàng và mai một khá lâu…

Đại Việt sử kí tòan thư, ghi về năm 1025, rằng “khi ấy có con hát là Đào thị, giỏi nghề hát, thường được ban thưởng. Người bấy giờ hâm mộ tiếng của Đào thị, phàm các con hát đều gọi là đào nương”[1]

Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ cũng nói rằng thời Lý thái tổ (1010-1028) có người ca nhi tên là Đào Thị tài giỏi, hát hay được vua ban thưởng, từ đó về sau những người đi hát được gọi là đào nương (tức ả đào), nhưng Công dư tiệp ký lại nói, vào một thời điểm muộn hơn, cuối nhà Hồ (1400-1407) một ca nhi họ Đào( cũng là họ Đào), ở làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, giết được nhiều giặc Minh, về sau dân làng ở đây lập đền thờ, gọi thôn của nàng là thôn ả Đào, và cũng từ đó ca nhi được gọi là ả đàọ Về sau, quãng cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là nửa đầu thế kỷ XX, ả đào thường được gọi là cô đầu.

Ca trù

Ca trù là một khái niệm chỉ một lối hát mà trong nó có rất nhiều điệu hát( theo thống kê của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề thì ca trù có 46 điệu): thét nhạc, non mai, hồng hạnh, hát nói,…Trong cách hiểu thông thường, khái niệm ca trù có thể được thay thế bằng các khái niệm khác như hát ả đào, hát nhà trò, hát cô đầu, hát nhà tơ,…mà nội dung của chúng không thay đổi và vẫn được hiểu như nhaụ ở Thanh Hóa ca trù còn được gọi là hát ca công, hát gõ. Về nghiã chữ thì ca trù xưa nay được giải thích là hát thẻ. Thẻ gọi là trù.Thẻ làm bằng tre và dùng để thưởng cho đào hát thay cho trả tiền mặt trực tiếp. Khi ả đào hát, quan viên thị lễ, một bên đánh trống,một bên đánh chiêng, trống đánh chát và chiêng đánh một tiếng khi thấy hát hay thì thưởng cho đào một thẻ trù, xong tiệc hát đào, kép ứng theo số thẻ đã được thưởng mà tính tiền, nhận tiền đúng theo quy định. Một số văn bia thế kỷ XVI, XVII ghi rõ qui định nàỵ Khái niệm ca trù sớm nhất hiện biết là thế kỷ XVI trong bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao.

Cầm chầu

Đánh trống cho ả đào hát gọi là cầm chầu. Dùi trống, làm bằng gỗ quý, gọi là roi chầu. Cầm chầu là tham gia vào ban nhạc, nghĩa là cũng có khổ, có tiếng trống khoan, trống mau như đàn và phách. Người quan viên cầm chầu ngoài chức năng tham gia ban nhạc với vai trò cầm quyền âm nhạc, còn có nhiệm vụ quan trọng là chấm thưởng mỗi khi đào nương hát hay hoặc hát đến câu văn hay, chữ hay, ý hay và còn chấm cả đàn hay, phách hay… Các khái niệm thưởng chữ, thưởng hơi, thưởng ý, thưởng đàn, thưởng phách xuất hiện vì những lý do như vậỵ Người cầm chầu đánh “cắc” là chấm thưởng. Tiếng trống thể hiện tính cách và khả năng âm nhạc, văn học của người cầm chầu. Điểm thưởng phải tinh, phải đích xác, không thưởng sai, không thưởng liều. Trước khi vào hát dùng ba khổ trống sơ cổ, tòng cổ, trung cổ; khi chuẩn bị hát, để dục đào, kép vào hát, thì dùng thôi cổ, khi hát dùng các khổ song châu, liên châu, xuyên tâm, chính diện, phi nhạn, lạc nhạn, quán châu.

Cô đầu nòi

Theo Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề thì “những con hát ở trong họ truyền thống gọi là Cô đầu nòi. Người ngoài muốn học nghề hát phải làm con nuôi một người trong họ truyền thống (nhà nòi) mới được giáo phường công nhận” [2]

Cô đầu rượu

Quãng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX xuất hiện khái niệm “cô đầu rượu” để chỉ các cô gái đến hầu khách, tiếp rượu hoặc uống rượu để mua vui cho khách nhưng không biết hát. Khái niệm này được dùng với thái độ phê phán.

Đàn đáy

Đàn đáy là một nhạc cụ đặc trưng cho lối hát ca trù, còn gọi là vô để cầm, nghĩa là đàn không đáy. Đàn có ba dây, 11 phím, thùng vuông, thân đàn dài. Tiếng đàn phải theo tiếng hát, hát cao thì đàn cao, hát thấp thì đàn thấp. Đàn có hai cách là đàn khuôn và đàn hàng hoa. Theo Sự tích tổ cô đầu (theo VNCTBK) thì truyền thuyết kể rằng Đinh Lễ, thời Lê, quê Cổ Đạm, Hà Tĩnh, chế tạo ra đàn đáy. Bộ sử lớn là Đại Việt sử ký toàn thư, trong danh sách được liệt kê, không thấy có đàn đáy trong khi có nhiều loại đàn khác, có thể thời kỳ này chưa có đàn đáy hoặc đã có nhưng chưa được chú ý đến.

Đầu thưởng, vai thưởng, nách thưởng.

Khái niệm này ít được các sách nói đến. Xuân Lan trong bài Nói về phép đi hát và phép đánh trống, in trong cuốn Ca trù thể cách, xuất bản năm 1922, viết: ” Hát có địa thế, như câu rằng: ” Minh quân lương tể tao phùng dị”, lại như là: ” Trương Lương bản vị hàn cừu xuất“. Những câu ấy, chữ nào chữ nấy phải hát cho rõ ràng, đứng đắn, vuông tròn, không khoan, không gấp, không cách nhỡ, mấy la hảo địa bộ, thời cũng nên thưởng. Thưởng những câu ấy, thời ca công gọi là đầu thưởng.

Hát cũng có tiếp tục, như câu rằng: “ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy cũng buồn cười, thôi công đâu chuốc lấy sự đời, tiêu khiển một vài chung lếu láo. Thế thời, Cảnh phù du, ba chữ ấy là chốn tiếp, thôi công đâu, ba chữ ấy là chốn tục. Những chữ ấy bắt cho khéo và hay thời cũng nên thưởng; mà thưởng vào chốn tiếp thời ca công gọi là vai thưởng; gọi vào chốn tục gọi là nách thưởng “.

Đủ khổ, dôi khổ, thiếu khổ

Một bài hát nói gồm ba khổ: khổ đầu, khổ giữa, khổ xếp. Khổ đầu và khổ giữa mỗi khổ có 4 câu, khổ xếp nằm ở vị trí cuối bài có 3 câu. Cấu trúc một bài hát nói đầy đủ 11 câu, trừ phần mưỡu, gọi là một bài hát đủ khổ, trên 11 câu là dôi khổ, chưa đủ 11 câu gọi là thiếu khổ. Hai khổ đầu, khổ xếp luôn luôn giữ nguyên, dôi hay thiếu khổ chỉ xảy ra ở khổ giữa.

Giáo phường

Giáo phường là một tổ chức của hát ca trù gồm nhiều họ. Cô đầu và kép từng vùng đều có một tên họ riêng, đào, kép ở họ nào mang tên họ ấy kèm theo tên của mình. Các tác giả Việt Nam ca trù biên khảo nói rằng giáo phường trước kia có những họ như họ Tam, họ Ngàn, họ Thông, họ Thiên và tên họ đứng trước tên người, ví dụ, tên là Thuận thuộc họ Thông thì gọi Thông Thuận. Người đứng đầu trong giáo phường gọi là ông trùm. Đứng đầu các trùm là các quản giáp. Giáo phường có hệ thống quy ước mà các thành viên phải thực hiện. Hằng năm tế tổ vào ngày 11 tháng Chạp, sau ngày lễ tế tổ thì ông trùm giải quyết những công việc nảy sinh trong giáo phường. Nơi lễ tế tổ không cố định, có thể làm ở nhà thờ, hoặc mượn đình của xã để làm lễ. Khi làm lễ có đủ mặt các đào nương, kép hát, hát đủ các điệu và đặt tiệc mời khách quí chứng giám, thường gọi là đám thánh sự. Giáo phường còn được hiểu là nơi dạy những người đi hát. Các tỉnh đều có giáo phường. Thăng Long ngày xưa có thôn Giáo Phường thuộc tổng Tả Nghiêm (sau đổi là Kim Liên). Cũng có thể cho rằng giáo phường là một tổ chức nghề nghiệp vừa có tính chất phường hội.

Hãm

Hãm là điệu hát của ca trù, hát ngâm hãm để chuốc rượu chúc mừng trong các tiệc vui hoặc tiệc mừng thọ. Khúc hát hãm có từ một mừng đến mười mừng. Cô đầu hát hãm để mời khách uống rượu, đặt quan viên vào tình thế phải uống. Nội dung và tiếng hát, câu hát trong tiệc mừng thọ phải mang tính chất vui và trang trọng và trong các cuộc vui với khách phong lưu phải có nét tình tứ.

Hát ả đào

Cũng như khái niệm ca trù, hát ả đào là tên gọi chung của rất nhiều điệu hát và có thể thay thế các khái niệm như ca trù, hát cô đầu, hát nhà trò,…Đó là những tên gọi khác nhau của cùng một nội dung. Thời điểm xuất hiện các tên gọi khác nhau có thể xuất phát từ những lý do lịch sử khác nhaụ Theo các thư tịch hiện biết thì khái niệm hát ả đào sớm nhất so với các khái niệm ca trù, nhà trò, cô đầu,…Các sách Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ, Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề tuy nói khác nhau về thời gian xuất hiện khái niệm hát ả đào mấy thế kỷ(nhà Lý và nhà Hồ) nhưng đều nói đến một lý do giống nhau là có một ca nhi họ Đào được ái mộ nên về sau những người ca hát được gọi là ả đàọ Thông tin về sự xuất hiện khái niệm được biết như thế nhưng các điệu hát thời đó như thế nào thì vẫn chưa có tư liệu nào cung cấp cho chúng ta, kể cả sự hiện diện dưới hình thức dấu hiệu ở một vài tư liệu hiện có. Thành tựu nghiên cứu cho đến nay vẫn chưa có cách giải thích khác về khái niệm ả đào.

Hát cô đầu

Hai khái niệm hát ả đào và hát cô đầu là cùng một nghĩa, một nội dung. Đào và đầu là hiện tượng chuyển hóa ngữ âm giữa tiếng Hán Việt sang tiếng Hán Việt Việt hóa, hay còn được gọi là thuần Việt. (Âm đầu Ao-au, âu như đào sẽ thành đầu, tạo sẽ thành tậu,… Hay ai- ay như trai thành chay, trái thành vay, hài thành giày,…)

Khái niệm hát cô đầu được dùng nhiều vào cuối thế kỉ XIX, đầu XX.

Hát cửa đình

Hát cửa đình là cuộc hát được tổ chức tại đình làng hàng năm.Thời điểm tổ chức là vào ngày mở hội tế thần, tế thành hoàng làng. Luật lệ hát rất chặt chẽ, nghiêm khắc, nghi lễ hát linh thiêng trọng thể. Khi hát ả đào phải nhịp theo các tiết mục hành lễ và các động tác của người tế. Ả đào phải hát đúng cửu khúc như Nguyên hòa khúc, Thái hoà khúc,… Các bài hát cửa đình gồm giáo trống, giáo hương, dâng hương, thét nhạc, hát giai,… Đặc điểm của hát cửa đình là uy nghi, nghiêm kính,thiêng liêng.

Hát cửa quyền

Hát cửa quyền xưa nay được hiểu là hát ở trong cung vua, nghĩa là nơi hát, địa điểm hát góp phần tạo tên gọi lối hát. Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút (mục Bàn về âm nhạc) mô tả sự khác nhau giữa hát ở cửa quyền và hát ngoài giáo phường: “Hát ở trong cung, tục gọi là hát cửa quyền, giọng hát uyển chuyển, dịu dàng, thanh nhã hơn giọng hát ở ngoài chốn giáo phường. Nhưng âm luật cũng không khác mấy”. Hát cửa quyền, theo nhiều sách thì, ngày xưa có quan chuyên trách, có các quy định, phép tắc, sau đó bỏ dần và pha lẫn với hát ngoài giáo phường.

Hát nhà tơ

Hát nhà tơ là tên gọi khác của hát ca trù, hát ả đào,… So với các khái niệm khác, trong các tư liệu hiện đang lưu hành, thì khái niệm hát nhà tơ vào loại ít được dùng đến. Nghĩa là tính phổ biến của nó không rộng. Chúng ta cũng chưa có tư liệu để xác định thời điểm ra đời của khái niệm nàỵ Các tác giả Việt Nam ca trù biên khảo nói rằng ngày xưa các quan khi yến tiệc trong dinh, trong ty thì mời ả đào về hát. Ty theo ông nghĩa là tơ và hát nhà tơ là hát trong ty (VNCTBK, Nxb, Tp HCM.1994, tr.44). Khác với nhiều khái niệm khác, ở khái niệm này các tác giả chỉ giải thích mà không dẫn sách.

Hát nhà trò

Hát nhà trò thường được gọi để thay thế các tên gọi khác như ca trù, ả đào, nhà tơ,… Lý do lịch sử của sự xuất hiện của khái niệm này, cũng như thời điểm ra đời của nó, hiện nay chưa được nghiên cứu rõ.Thời điểm hình thành khái niệm và sử dụng nó một cách phổ biến có thể muộn hơn các khái niệm ca trù, hát cửa đình, nhưng phải trước thế kỷ XIX. Vào cuối thế kỷ XIX Trương Vĩnh Ký có một bài viết là Hát nhà trò. Làng Cổ Đạm thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nơi có truyền thuyết là tổ quê ca trù, hiện còn nền đất của một ngôi nhà xưa kia được dùng để hát nhà trò, nhân dân ở đây thường gọi là Nền Nhà Trò. Tại Nghệ An có một quả núi mang tên Rú Nhà Trò. Như vậy nhà trò đã là tên gọi khá phổ biến một thời ở xứ Nghệ. Khái niệm nhà trò, trong các tài liệu thành văn, được dùng ít hơn các khái niệm ca trù, hát ả đào,… Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề giải thích: “Khi ả đào hát ở cửa đền có bỏ bộ, miệng hát tay múa uốn éo lên xuống, làm bộ điệu người điên, người say rượu, người đi săn,… Vì vừa hát vừa làm trò nên gọi là hát nhà trò.” (VNCTBK, Nxb. T.p HCM 1994. -trang 44). Cách giải thích đó có thể chỉ mới là cách giải thích truyền khẩu được ghi lại.

Lạc nhạn, xuyên tâm, thùy châu

Các khái niệm này chỉ khổ nhạc của đánh trống, đàn, phách. Nó được chia thành 5 khổ, theo thứ tự: Chính diện(dùng vào những câu bằng phẳng); xuyên tâm có xuyên thưa, xuyên mau; lạc nhạn( dùng vào những câu trầm ngâm) hay còn gọi là trầm ngư, hạ mã; quán châu( dùng vào các khổ thơ); thượng mã( dùng vào khổ dồn, xếp) còn gọi là đoạt châu, phi nhạn, phi ngư, tranh tiên. Ba tiếng trống vào giữa câu thứ 11 gọi là thùy châu hoặc câu thứ 10, tùy theo đặc điểm từng câu. Thùy châu thường dùng vào những câu thơ bâng khuâng, mơ màng.

Lễ mở xiêm áo

Đào hát khi học hát đã thành thục, xin trình trầu cau với giáo phường. Việc trình trầu cau này được thông báo và lễ lạt của đào nương được nhận, sau khi đã sát hạch chuyên môn thành công. Khi được công nhận, đào nương chọn ngày tốt rồi làm lễ Cáo tổ, sau đó mới một quan viên có danh vọng đến nghe buổi ra mắt nàỵ Trong buổi ra mắt có tiệc mừng và có lễ mừng. Giáo phương gọi lễ này là Lễ mở xiêm áo.

Quan viên

Khái niệm quan viên trong ca trù dùng để gọi những người tham gia nghe hát. Trong một cuộc hát ca trù, quan viên cũng có thể tham gia cầm chầu. Họ có thể vừa là công chúng thưởng thức và cũng có thể là thành viên của ban nhạc.

Xuyên thưa

Là ba tiếng trống (đánh khoan thai) vào đầu câu thứ tư, xuyên mau là ba tiếng trống (đánh gấp) vào đầu câu thứ 8.

Phách

Phách là một bộ phận nhạc cụ của hát ả đào, dùng cho ả đào gõ nhịp khi hát. Nó không phải là nhạc cụ của nhạc công mà là nhạc cụ của ả đào, của người hát. Vũ trung tùy bút, mục Nhạc biện, viêt: ” Đào nương trong tay cầm một đốt phách, tục gọi là sênh, loại phách có xâu tiền, tục gọi là sênh tiền, thường án phách để đỡ tiếng ca “. Cũng có ý kiến cho rằng phách và sênh là hai bộ phận làm thành một nhạc cụ. Phách được làm bằng gỗ. Khi hát ả đào gõ hai cái phách vào cái sênh. Sênh được làm bằng tre hoặc bằng gỗ. Tuy là hai bộ phận bình đẳng nhưng thông thường người ta chỉ gọi phách như là tiếng đủ để đại diện cho sênh, phách.

Tiếng phách có vai trò rất quan trọng đối với hát ca trù.. Phách có bốn khổ: Khổ sòng, khổ đơn, khổ rải, khổ lá đầu. Nhịp của phách đẻ ra các khái niệm khác như phách rung, phách dóc, phách thưa, phách mau.

Quản giáp

Quản giáp là kép hát, có thể là tên gọi ban đầu của kép hát, không nên hiểu quản giáp như một chức trách. Đại Việt sử kí tòan thư viết: “..Lại đổi chức hỏa đầu làm chính thủ, chỉ con hát mới gọi là quản giáp“[3]. Như vậy tên gọi quản giáp cũng có sự biến đổi. Có ý kiến xem quản giáp có vai trò nào đấy trong giáo phường.

Ty giáo phường

Ty giáo phường là một sự liên kết, tập hợp của các giáo phường các địa phương các xã, các giáp, các họ. Ty giáo phường mang hình thức phường hộ.

Trù tiền

Tức tiền trù, còn được gọi là tiền xướng trù (xướng trù tiền). Đây là số tiền được trả cho giáo phường hay thành viên khi tham gia hát. Tiền được trả theo quy ước, thỏa thuận.

(Nguyễn Đức Mậu biên soạn) [1] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1983, tr 251. [2] Việt Nam ca trù biên khảo, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1994, tr 52. [3] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1983, tr 251.

oOo