Xem Nhiều 1/2023 #️ Tuần 23. Luyện Tập Đọc # Top 10 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Tuần 23. Luyện Tập Đọc # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tuần 23. Luyện Tập Đọc mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tuần 23. Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn học

ĐỌC HIỂUHãy đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:Ta lớn lên bằng niềm tin rất thậtCủa bao nhiêu hạnh phúc có trên đờiDẫu trải qua cay đắng dập vùiRằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậuCây khế chua có đại bàng đến đậuChim ăn rồi trả ngon ngọt cho taĐất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoaHoa của đất, người trồng cây dựng cửaKhi ta đến gõ lên từng cánh cửaThì tin yêu ngay thẳng đón ta vàoTa nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!… (Trích “Trường ca mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm)Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. Câu 2. Chất liệu văn học dân gian hiện lên qua hình ảnh, câu thơ nào?Câu 3. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ:Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoaHoa của đất, người trồng cây dựng cửaCâu 4. Nội dung của đoạn thơ trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về sức sống của con người Việt Nam.Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Việc dám mạo hiểm từ bỏ hẳn công việc cũ để theo đuổi ước mơ giúp tôi có cơ hội được gặp gỡ nhiều con người thú vị. Chính tôi đã góp phần tạo ra sự khác biệt trong cuộc sống của họ thì đồng thời, rất nhiều người trong số họ cũng đã có những tác động đáng kể trở lại đối với cuộc đời tôi. Khi nhìn lại những gì đã trải qua, những sự mạo hiểm của tôi dường như trở nên quá nhỏ bé khi so sánh với những phần thưởng lớn lao mà tôi đã nhận lại được. Nếu không dám mạo hiểm, tôi sẽ chẳng bao giờ tạo nên bước đột phá ngoạn mục trong cuộc đời mình. Hãy quyết tâm hành động! Trong “ván bài” của cuộc đời, một số người chỉ đứng xem thờ ơ, một số người khác thích thú reo hò, nhưng chỉ có một số ít người là thật sự tham gia cuộc chơi và điều đó đòi hỏi ở bạn một chút mạo hiểm, phải làm một điều mà trước đây bạn chưa từng làm. Điều này cũng có nghĩa là bạn sắp phải dịch chuyển ra khỏi “vùng an toàn” lâu nay của mình. Ví dụ, bạn có thể phải xa rời người thân và bạn bè, căn nhà xinh xắn, hoặc là công việc hiện tại với mức lương hậu hĩnh… Mặc dù sẽ rất khó khăn lúc ban đầu, nhưng bạn phải chế ngự được nỗi sợ hãi đó để có thể vững lòng thẳng tiến trên con đường mình đã chọn. Hãy đón nhận những cơ hội mới mẻ đang đến – dù chúng đòi hỏi ở bạn một sự mạo hiểm nhất định nào đó, hãy cân nhắc những điểm mạnh và yếu, phân tích những lợi thế, tính trước những phương án dự phòng để có thể sẵn sàng đối đầu và xử lý linh hoạt trước những điều bất ngờ không nằm trong hoạch định. Muốn thành công nghĩa là phải mạo hiểm chấp nhận thất bại. Nếu bạn lúc nào cũng sợ hãi và chọn lấy cho mình phương án an toàn nhất, thì bạn khó có thể mang lại cho mình những cơ hội mới mẻ để khám phá con đường thành công của chính mình. (Thay Thái Độ – Đổi Cuộc Đời 2 – Keith D. Harrell)Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.Câu 2. Anh/chị hiểu ba chữ “vùng an toàn” được nhắc đến trong đoạn trích là gì?Câu 3. Thái độ của tác giả trong đoạn trích? Câu 4. Anh/chị có đồng tình với ý kiến: “Muốn thành công nghĩa là phải mạo hiểm chấp nhận thất bại.”? Vì sao?

Tuần 34. Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Nghị Luận

Nhiệt liệt chào mừng các thầy cô giáo về dự giờ lớp 11B Chúc các thầy cô vui vẻ, mạnh khỏe .Chúc c¸c em cã giê häc bæ Ých Làm văn

Tiết 117

1. Bài tập 1 SGK trang 122-123Dự định tóm tắt – Cái buồn của thơ mới không ủy mị mà chứa nhiều yếu tố tích cực. – Thơ mới là phong trào văn học phong phú, một phong trào sáng tạo dồi dào, có nhiều yếu tố tích cực– Phong trào thơ mới có nhiều đóng góp về nghệ thuật thơ.– Thơ mới xứng đáng được mệnh danh là “một thời đại trong thi ca” như Hoài Thanh đã nói.2.Bài tập 2 SGK/ 123: – Chủ đề : Tinh thần thơ mới.. Mục đích của nghị luận : Khắc họa tinh thần thơ mới là sự cách tân về thơ , từ “cái ta” chuyển sang ” cái tôi” đầy màu sắc cá nhân , là tình yêu tha thiết tiếng Việt .c.Bố cục : Chia làm 3 phần

– Phần mở đầu: câu đầu “Bây giờ hãy đi tìm cái điều ta cho là quan trọng hơn: tinh thần thơ mới”. – Phần thân bài: + Cái khó trong việc tìm ra tinh thần thơ mới và xác định cách tiếp cận đúng đắn cần phải có. + Những biểu hiện của “cái tôi” cá nhân trong thơ mới, “cái tôi” buồn, bế tắc nhưng khao khát với cuộc sống, với đất nước, con người. + Tình yêu, lòng say mê, nâng niu đối với tiếng Việt. – Phần kết bài: nhấn mạnh tinh thần thơ mới*Tóm tắt: Đặt ra nhiệm vụ đi tìm “Tinh thần thơ mới”. Xã hội Việt Nam xưa không có cá nhân, chỉ có đoàn thể, cái bản sắc của cá nhân chìm đắm trong gia đình, quốc gia. Cũng có những bậc kì tài dùng cái tôi cá nhân nhưng để nói chuyện người khác chứ không nói đến mình. Khi cái tôi xuất hiện với cái nghĩa tuyệt đối của nó trên thi đàn Việt Nam, nó vừa đáng thương, vừa tội nghiệp. Tâm hồn của họ thu nhỏ lại trong khuôn khổ chữ tôi. Bi kịch của cái tôi là đi đâu cũng không thoát khỏi sự bơ vơ, cô đơn. Bởi thế, họ gửi tất cả bi kịch vào tiếng Việt. Họ tìm về dĩ vãng để tin vào những bất diệt đảm bảo cho ngày mai.BÀI TẬP THỰC HÀNHBài tập 3Đọc và tóm tắt văn bản nghị luậnLời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến 19/12/1946

Lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến 19/12/1946

Hỡi đồng bào toàn quốc!Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.Hỡi đồng bào!Chúng ta phải đứng lên!Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm !Kháng chiến thắng lợi muôn năm !

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946 Hồ Chí Minh(Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)BÀI TẬP THỰC HÀNH Bài tập 3Đọc và tóm tắt văn bản nghị luậnLời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến 19/12/1946 BÀI TẬP VẬN DỤNG Đọc tài liệu tham khảo Công viên Địa chất Non Nước Cao Bằng là Công viên Địa chất Toàn cầu. Tóm tắt ý chính

UNESCO công nhận Công viên Địa chất Non Nước Cao Bằng là Công viên Địa chất Toàn cầu

Thông tin từ Bộ Ngoại giao cho biết, vào 12 giờ 56 phút giờ Paris ngày 12/4/2018, Hội đồng Chấp hành UNESCO tại Kỳ họp lần thứ 204 ở Paris, Pháp, đã thông qua Nghị quyết công nhận Công viên Địa chất Non Nước Cao Bằng là Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO. Với danh hiệu này, Công viên Địa chất Non Nước Cao Bằng trở thành Công viên Địa chất Toàn cầu thứ hai ở Việt Nam, sau Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Cho đến trước kỳ họp xét công nhận này, trên thế giới chỉ có tổng cộng 127 Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO ở 35 quốc giaCông viên Địa chất Toàn cầu UNESCO là danh hiệu cao quý dành cho một khu vực tự nhiên có ranh giới địa lý-hành chính rõ ràng, chứa đựng một tập hợp các di sản địa chất tầm cỡ quốc tế có giá trị khoa học, giáo dục và thẩm mỹ, cùng các giá trị khác về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa xã hội…, tất cả cùng được bảo tồn và phát huy giá trị một cách tổng thể. Một Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO cần có diện tích đủ lớn để có tác động đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội bền vững của địa phương.UNESCO công nhận Công viên Địa chất Non Nước Cao Bằng là Công viên Địa chất Toàn cầuTừ năm 2015, Ủy ban Quốc gia UNESCO đã giới thiệu với tỉnh Cao Bằng mô hình phát triển bền vững của Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO. Lãnh đạo tỉnh, các sở, ban, ngành và cộng đồng địa phương đã cùng Ban thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO (Bộ Ngoại giao) và Tiểu ban Kỹ thuật về Công viên Địa chất Toàn cầu của Ủy ban Quốc gia (Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường) quyết tâm triển khai trên thực tế các bước xây dựng Công viên Địa chất Non Nước Cao Bằng, mời các chuyên gia trong nước và quốc tế xây dựng hồ sơ và kết nối với Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu của UNESCO (GGN) để nhanh chóng hoàn chỉnh hồ sơ đệ trình UNESCO (tháng 11 năm 2016). Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ và đồng hành cùng chính quyền các cấp tỉnh Cao Bằng và người dân địa phương tiến hành các bước bảo vệ thành công hồ sơ trước các cơ quan uy tín quốc tế, bao gồm Nhóm Thẩm định Công viên Địa chất Toàn cầu (tháng 7/2017) và Hội đồng Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO (tháng 9/2017). Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Non Nước Cao Bằng có diện tích hơn 3275 km2, nằm trên địa bàn của 9 huyện nơi địa đầu Tổ quốc, nơi sinh sống của hơn 250.000 người thuộc 9 dân tộc ít người. Đến nay các nhà khoa học đã phát hiện, đánh giá, đề xuất xếp hạng trên 130 điểm di sản địa chất độc đáo, với các dạng địa hình, cảnh quan đá vôi hết sức phong phú, đa dạng, như các tháp, nón, thung lũng, hang động, hệ thống hồ-sông-hang ngầm liên thông…, phản ánh một chu kỳ tiến hóa karst hoàn chỉnh ở vùng nhiệt đới. Thêm vào đó là rất nhiều kiểu loại di sản địa chất khác như các hóa thạch cổ sinh, ranh giới giữa các phân vị địa chất, đứt gãy, các loại hình khoáng sản…, tất cả cùng minh chứng cho lịch sử phát triển địa chất phức tạp, kéo dài đến hơn 500 triệu năm ở vùng đất này.Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Non Nước Cao Bằng có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như khu du lịch sinh thái Phia Oắc, Phia Đén, Quần thể Hồ Thang Hen, Động Ngườm Ngao… và đặc biệt Thác Bản Giốc, một trong bốn thác vùng biên giới lớn và đẹp nhất trên thế giới. Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Non Nước Cao Bằng cũng là vùng đất có bề dày văn hóa, lịch sử với hơn 215 di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng, trong đó có 3 di tích quốc gia đặc biệt(( Khu di tích quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo,Di tích Chiến thắng Biên giới 1950, Khu di tích lịch sử Pác Bó), được coi là một trong những khu vực ở Việt Nam được người tiền sử chiếm cư từ rất sớm, cố đô của một số triều đại phong kiến, và đặc biệt, là cái nôi của cách mạng Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Tỉnh Cao Bằng đã xây dựng và đang triển khai kế hoạch bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, sử dụng hợp lý tài nguyên, giữ gìn và phát huy tối đa các giá trị về địa chất, đa dạng sinh học, văn hóa, lịch sử, truyền thống dân tộc… song song với phát triển kinh tế – xã hội, chú trọng phát triển du lịch bền vững nhằm phát huy giá trị của Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Non Nước Cao Bằng.

THẢO LUẬN NHÓM(3 phút)Nhóm 1- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Nhóm 2 – UNESCO công nhận Công viên Địa chất Non Nước Cao Bằng là Công viên Địa chất Toàn cầu

Bài tập về nhà viết bài văn nghị luận về lễ công nhận Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao BằngCHÀO TẠM BIỆT CHÚC THẦY CÔ SỨC KHỎE DỒI DÀOVÀ CHÚC CÁC EM LUÔN CỐ GẮNG HỌC TẬP !

Soạn Bài Luyện Tập Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học

– Cách hiểu này xuất phát từ lí tưởng cao đẹp của các trang nam nhi hào kiệt khi xưa, đó là lí tưởng cống hiến sức lực để bảo vệ sự trường tồn cho non sông, cho dân tộc. Phạm Ngũ Lão là một vị tướng tài ba song cũng là một con người đầy ý thức về trách nhiệm với đất nước.Mặt khác “Vũ Hầu” ở đây là chỉ Gia Cát Lượng, một biểu tượng về tấm lòng trung, về những đóng góp cho triều đại.

b. Ý nghĩa đoạn trích sau là gì?

“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông phải cạn Đánh một trận sạch không kinh ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông Nổi gió to trút sạch lá khô Thông tổ kiến phá toang đê vỡ” ( Đại cáo bình ngô)

+ “đá- núi” + “voi- nước” + “Chim muông” + “Lá khô” + “Tổ kiến-đê vỡ”

c.Hiểu thế nào là “Ý tại ngôn ngoại” ( ý ở ngoài lời của thơ văn)? Trong các tác phẩm thơ văn, ta có thể dễ dàng cảm nhận được lớp ý nghĩa bề mặt của ngôn từ, nhưng ý nghĩa hàm ẩn không được nhà văn trực tiếp nói ra thì không phải ai cũng có thể cảm nhận được. Nói một cách dễ hiểu thì hầu hết mọi tác phẩm thơ văn đều có hai tầng ý nghĩa, đó là ý nghĩa bề mặt và ý nghĩa hàm ẩn. ý nghĩa hàm ẩn không được trực tiếp bộc lộ bằng ngôn ngữ mà chỉ có thể thấy được thông qua cách cảm nhận, suy ngẫm của độc giả, đó chính là “Ý toại ngôn ngoại”.

2. Luyện tập đọc- hiểu mạch ý của đoạn văn a. Chỉ ra các ý và liên hệ giữa các ý trong đoạn văn sau:

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên”: (Hiền tài là nguyên khí của quốc gia).

+ Hiền tài là nguyên khí quốc gia + Tầm quan trọng của hiền tài đối với sự suy thịnh của đất nước.

Thực chất, ý thứ hai là sự phát triển của ý thứ nhất. Trước tiên, tác giả nêu ra vấn đề hiền tài là nguyên khí quốc gia. Sau đó chỉ ra tầm quan trọng của hiền tài đối với sự tồn vong, hưng thịnh của một triều đại, đất nước.

b. Trong bài Tựa “Trích diễm thi tập” (Hoàng Đức Lương) có những đoạn văn nào? Ý chính của từng đoạn văn là gì? Các ý đó liên hệ với nhau như thế nào? Bài tựa “Trích diễm thi tập” gồm có hai đoạn:

+ Đoạn 1: TRình bày những nguyên nhân khiến cho thơ văn bị thất truyền + Đoạn 2: Nêu lên động cơ của quá trình biên soạn sách.

Hai đoạn có mối quan hệ bổ trợ cho nhau, vì những nguyên nhân nhất định khiến cho thơ văn bị thất truyền trong xã hội, đau xót trước thực trạng mất mát của những giá trị văn hóa cùng với niềm đam mê sách vở, đam mê cái đẹp thì Hoàng Đức Lương đã biên soạn lên cuốn “Trích diễm thi tập”. Theo đó thì luận điểm của đoạn một có ý nghĩa tương trợ, giải thích cho động cơ ở đoạn hai.

c. Đặc điểm chung trong hình thức của hai đoạn trích “Thái phó Tô Hiến Thành” và “Thái sư Trần Thủ Độ” là:

+ Đều xác định ngày tháng nhân vật mất trước khi đi sâu trình bày về cuộc đời của những nhân vật này. Nói cách khác, cả hai đoạn trích đều được bố cục theo bút pháp “cái quan định luận”.

Giải Câu Hỏi Luyện Tập

Giải câu hỏi Luyện tập – (Trang 87 SGK ngữ văn 7 tập 1) – Phần soạn bài Đặc điểm của văn bản biểu cảm trang 84 – 87 SGK ngữ văn lớp 7 tập 1.

Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi: HOA HỌC TRÒ

Phượng cứ nở.Phượng cứ rơi.Bao giờ cũng có hoa phượng rơi, bao giờ cũng có hoa phượng nở.Nghỉ hè đã đến.Học sinh sửa soạn về nhà.Nhà chưa về, cái vui gia đình đâu chửa thấy, chỉ thấy xa trường, rời bạn, buồn xiết bao!Những cuộc tình duyên giữa bạn bè, đến lúc rẽ chia, cũng rẽ chia dưới màu hoa phượng; dù hữu tâm, dù vô tình, người nào cũng có sắc hoa phượng nằm ở trong hồn.Phượng xui ta nhớ cái gì đâu.Nhớ người sắp xa, còn đứng trước mặt..Nhớ một trưa hè gà gáy khan… Nhớ một thành xưa son uể oải…

…Thôi học trò đã về hết, hoặc hoa phượng ở lại một mình.Phượng đứng canh gác nhà trường, sân trường.Hè đang thịnh, mọi nơi đều buồn bã, trường ngủ, cây cối cũng ngủ.Chỉ có hoa phượng thức để làm vui cho cảnh trường.Hoa phượng thức, nhưng thỉnh thoảng cũng mệt nhọc, muốn lim dim.Gió qua, hoa giật mình, một cơn hoa rụng.

Cứ như thế, hoa – học – trò thả những cánh son xuống cỏ, đếm từng giây phút và xa bạn học sinh !Hoa phượng rơi, rơi… Hoa phượng mưa.Hoa phượng khóc.Trường tẻ ngắt, không tiếng trống, không tiếng người.Hoa phượng mơ, hoa phượng nhớ.Ba tháng trời đằng đẵng.Hoa phượng đẹp với ai, khi học sinh đã đi cả rồi!

( Theo Xuân Diệu)

a) Bài văn thể hiện tình cảm gì? Việc miêu tả hoa phượng đóng vai trò gì trong bài văn biểu cảm này? Vì sao tác giả gọi hoa phượng là hoa – học – trò?

b) Hãy tìm mạch ý của bài văn.

c) Bài văn này biểu cảm trực tiếp hay gián tiếp?

a) Bằng hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng: hoa phượng, Xuân Diệu đã thể hiện một cách sâu sắc, tinh tế cảm xúc của tuổi học trò trong những ngày hè chia li. Những trạng thái cảm xúc được biểu hiện ở ba đoạn văn mang sắc thái khác nhau, từ bối rối, xuyến xao buồn nhớ đến những khoảnh khắc trống trải, xa vắng và nỗi niềm cô đơn, bâng khuâng nhung nhớ, dỗi hờn. Tất cả đều được tác giả gửi gắm qua hình ảnh hoa phượng, gợi lên từ hoa phượng, hoá thân vào hoa phượng mà thổ lộ tâm tình.

b) Mạch ý của bài văn gồm 3 đoạn.

– Đoạn 1: Phượng khơi dậy bao nỗi niềm chia xa trong lòng người.

– Đoạn 2: Phượng thức đợi một mình khi học trò đã về xa.

– Đoạn 3: Phượng khóc vì thời gian đợi chờ dài đằng đẵng.

c) Bài văn này vừa dùng hình thức biểu cảm trực tiếp, vừa dùng hình thức biểu cảm gián tiếp.

– Gián tiếp: Dùng hoa phượng để nói lên nỗi niềm của lòng người.

– Trực tiếp: Có những câu trực tiếp thể hiện cảm xúc của tác giả: “Nhớ người sắp xa còn đứng trước mặt… Nhớ một trưa hè gà gáy khan…” “Thấy xa trường rồi bạn buồn xiết bao”.

(BAIVIET.COM)

Bạn đang xem bài viết Tuần 23. Luyện Tập Đọc trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!