Xem Nhiều 1/2023 #️ Việt Bắc Của Tố Hữu # Top 10 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Việt Bắc Của Tố Hữu # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Việt Bắc Của Tố Hữu mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

+ Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

+ Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

+ Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

– Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Nhớ sao lớp học i tờ

Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều.

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.

Ai về ai có nhớ không?

Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng

Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà…

Những đường Việt Bắc của ta

Ðêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Tin vui chiến thắng trăm miền

Hòa Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về

Vui từ Ðồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

Ai về ai có nhớ không?

Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang.

Nắng trưa rực rỡ sao vàng

Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công

Ðiều quân chiến dịch thu đông

Nông thôn phát động, giao thông mở đường

Giữ đê, phòng hạn, thu lương

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Mười lăm năm ấy ai quên

Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa

Mình về mình lại nhớ ta

Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.

– Nước trôi nước có về nguồn

Mây đi mây có cùng non trở về?

Mình về, ta gửi về quê

Thuyền nâu trâu mộng với bè nứa mai

Nâu này nhuộm áo không phai

Cho lòng thêm đậm cho ai nhớ mình

Trâu về, xanh lại Thái Bình

Nứa mai gài chặt mối tình ngược xuôi.

– Nước trôi, lòng suối chẳng trôi

Mây đi mây vẫn nhớ hồi về non

Ðá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Chàm nâu thêm đậm, phấn son chẳng nhòa.

Nứa mai mình gửi quê nhà

Nước non đâu cũng là ta với mình

Thái Bình đồng lại tươi xanh

Phên nhà lại ấm, mái đình lại vui…

– Mình về thành thị xa xôi

Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?

Phố đông, còn nhớ bản làng

Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?

Mình đi, ta hỏi thăm chừng

Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui?

– Ðường về, đây đó gần thôi!

Hôm nay rời bản về nơi thị thành

Nhà cao chẳng khuất non xanh

Phố đông, càng giục chân nhanh bước đường.

Ngày mai về lại thôn hương

Rừng xưa núi cũ yêu thương lại về

Ngày mai rộn rã sơn khê

Ngược xuôi tàu chạy, bốn bề lưới giăng.

Than Phấn Mễ, thiếc Cao Bằng

Phố phường như nấm như măng giữa trời

Mái trường ngói mới đỏ tươi.

Chợ vui trăm nẻo về khơi luồng hàng

Muối Thái Bình ngược Hà Giang

Cày bừa Ðông Xuất, mía đường tỉnh Thanh

Ai về mua vại Hương Canh

Ai lên mình gửi cho anh với nàng

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Ðịnh, lụa hàng Hà Ðông

Áo em thêu chỉ biếc hồng

Mùa xuân ngày hội lùng tùng thêm tươi

Còn non, còn nước, còn trời

Bác Hồ thêm khoẻ, cuộc đời càng vui!

– Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!

Nhớ Người những sáng tinh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi rừng núi trông theo bóng Người…

– Lòng ta ơn Ðảng đời đời

Ngược xuôi đôi mặt một lời song song.

Ngàn năm xưa nước non Hồng

Còn đây ơn Ðảng nối dòng dài lâu

Ngàn năm non nước mai sau

Ðời đời ơn Ðảng càng sâu càng nồng.

Cầm tay nhau hát vui chung

Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu

Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Tố Hữu là một nhà thơ tiên phong, là lá cờ đầu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Mỗi tác phẩm của ông đều là một mũi tên chính trị hướng tới kể thu của mình. Đồng thời thể hiện thái độ tinh thần yêu nước, tinh thần hy sinh vì quê hương đất nước. Bài thơ “Việt Bắc” được tác giả Tố Hữu sáng tác đã sáng tác khi đất nước ta chiến thắng thực dân Pháp và những người dân yêu nước gắn bó với cách mạng, khi đất nước ta bước vào giai đoạn mới xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc nước ta. Mở đầu bài thơ “Việt Bắc” là cuộc chia ly nhiều xúc động giữa các chiến sĩ cách mạng với những người dân tộc thiểu số vùng núi Tây Bắc.

” Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay. . . “

Khổ thơ đầu tiên thể hiện tâm trạng vấn vương lưu luyến của những người dân tộc thiểu số với những người chiến sĩ gắn bó với người dân trong suốt 15 năm kháng chiến gian khổ khó khăn. Tâm trạng lưu luyến thể hiện tình cảm bịn rịn lưu luyến như những người thân ruột thịt trong gia đình.

Trong cách xưng hô của tác giả Tố Hữu giữa “mình” và “ta” thể hiện những người thân trong gia đình, những con người không chung huyết thống nhưng lại như người thân trong cùng một nhà. Sau một thời gian dài những người chiến sĩ cách mạng gắn bó với vùng núi Tây Bắc coi những người dân nơi đây là cha mẹ là anh chị cùng chung một nhà, mảnh đất Tây Bắc chính là quê hương thứ hai của mình gắn bó thủy chung. Nên khi phải rời xa nơi đây họ cũng lưu luyến vấn vương không muốn rời đi.

” Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Trong khổ thơ này của bài thơ “Việt Bắc” tác giả đã hồi tưởng lại những kỉ niệm gắn bó, thân thiết vào sinh ra tử giữa những người đồng bào nơi đây với những chiến sĩ cách mạng cùng chung chí hướng, cùng chung một kẻ thù. Họ đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, cùng nhau chia sẻ những miếng lương khô, củ khoai củ sắn trong thời gian khó khăn kháng chiến. Tình cảm mà những người dân nơi đây dành cho những chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ của chúng ta không gì có thể nói hết. Nhờ có tình cảm thương yêu che chở của những người dân ở núi rừng Việt Bắc mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của chúng ta mới có thể thành công vẻ vang tới như vậy. Đây là một vùng đất ghi dấu những tháng năm rực rỡ của cuộc những năm kháng chiến. Từng cành cây, ngọn cỏ của nơi đây đều ghi dấu những kỉ niệm ngọt ngào của của người dân và các chiến sĩ cách mạng, khi nhớ tới cuộc chiến tranh gian khổ, mười lăm năm tình nghĩa thì tác giả Tố Hữu không kìm nén được cảm xúc của mình.

“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà, đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu. . . Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy Ta đi, ta nhớ những ngày M ình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi. . . Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ sao lớp học i tờ Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa. . . “

“Ta về, mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. “

Trong khổ thơ này của bài thơ “Việt Bắc” hiện lên trong mắt người đọc một bức tranh bốn mùa của vùng quê Tây Bắc vô cùng tươi đẹp. Mùa nào cũng đều xinh tươi một bức tranh tuyệt đẹp. Mùa đông với hình ảnh những bông hoa chuối đỏ rực rỡ làm cho bức tranh mùa đông trở nên vô cùng ấm áp. Mùa đông tới thường kéo theo những cơn mưa mùa đông lạnh giá rét buốt, nhưng những bông hoa chuối làm cho bức tranh mùa đông ở núi rừng Việt Bắc trở nên sinh động, ấm áp và tràn đầy sức sống. Chính hình ảnh những bông hoa chuối đỏ thể hiện một niềm tin của tác giả Tố Hữu với niềm tin của tương lai toàn thắng của cả dân tộc. Trong bức tranh mùa xuân những bông hoa mơ nở trắng khu rừng tạo nên một mùa xuân vừa tinh khôi vừa rực rỡ, những bông hoa mơ và đào, hoa mai chính là biểu tượng của mùa xuân thể hiện sự tinh khôi, thể hiện một bức tranh mùa xuân lung linh màu sắc làm xúc động lòng người.

Trong bức tranh mùa hè tác giả Tố Hữu gợi mở một không gian mới bằng tiếng ve kêu suốt mùa hè. Biểu tượng của mùa hè chính là tiếng ve bởi khi ve kêu chính là một biểu tượng ẩn dụ của mùa hè tới. Tiếng về kêu thể hiện sự ấp áp của một khung cảnh vô cùng tươi đẹp đang tới với núi rừng Việt Bắc. Bức tranh màu thu với hình với hình ảnh ánh trăng hòa bình một bức tranh của ước mơ về ngày toàn thắng. Một bức tranh của những tình cảm tha thiết ân tình thủy chung, tình đồng chí đồng đội gắn bó như người thân thiết.

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Ðất trời ta cả chiến khu một lòng. Ai về ai có nhớ không? Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà. . . “

Trong khổ thơ này của bài thơ “Việt Bắc” của tác giả Tố Hữu đã tái hiện lại tội ác của giặc, những ngày tháng chiến tranh vô cùng cam go quyết liệt, thể hiện một cuộc chiến tranh nhiều sóng gió, vào sinh ra tử của những người chiến sĩ với kẻ thù. Trong những ngày tháng khó khăn đó người dân của chúng ta đã gắn kết với nhau như là người trong một nhà cùng chung chí hướng mục tiêu chiến đấu.

Ai về ai có nhớ không? Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang. Nắng trưa rực rỡ sao vàng Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công Ðiều quân chiến dịch thu đông Nông thôn phát động, giao thông mở đường Giữ đê, phòng hạn, thu lương Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu. . . Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền. Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào. “

Trong đoạn thơ này một bức tranh chia ly kẻ ở người đi giữa những người chiến sĩ cách mạng với những người dân đồng bao dân tộc khiến người đọc vô cùng xúc động. Thông qua những câu thơ ta thấy được khung cảnh chia lay vô cùng bịn rịn, lưu luyến thể hiện niềm bâng khuâng trước khi chia tay vô cùng nghẹn ngào.

Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu thể hiện tinh thần yêu nước tha thiết, tình cảm quân dân gắn bó tha thiết giữa tác giả Tố Hữu của người dân vùng dân tộc Tây Bắc. Thông qua bài thơ ta thấy được tình cảm yêu nước của tác giả Tố Hữu.

Bình Minh

Soạn Bài Việt Bắc Của Tố Hữu Phần Tác Phẩm

Tái hiện cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ nhưng oanh liệt, hào hùng của dân tộc Việt Nam: từ những ngày đầu thiếu thốn, gian khổ nhưng đầy sức mạnh của tinh thần đoàn kết nhất trí của đất trời, con người Việt Nam đến những ngày chuyển quân sôi động, hào hùng, niềm vui, tự hào trong ngày thắng lợi vẻ vang của toàn dân tộc.

Trong giờ phút chia tay, cả người đi và người ở lại cùng nhớ về những ngày đã qua: những ngày tháng sống trong lòng Việt Bắc gian khổ, thiếu thốn mà nặng nghĩa tình.

Cấu tứ độc đáo, âm hưởng ngọt ngào, sâu lắng của ca dao, dân ca thể hiện thành công nghĩa tình của người Việt Nam trong kháng chiến.

Vận dụng sáng tạo, linh hoạt, biến hóa đại từ “mình – ta” thể hiện lời đồng vọng, tinh thần gắn bó, thủy chung tha thiết.

Câu 1: Hoàn cảnh sáng tác của bài thơ và sắc thái trữ tình trong đoạn trích?

Hoàn cảnh sáng tác: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.

Tháng 7 – 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết, hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới

Tháng 10 – 1954, những người kháng chiến từ chiến khu Việt Bắc trở về miền xuôi. Trung ương Đảng và chính phủ từ quê hương cách mạng về lại Thủ đô. Nhân sự kiện có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc

Sắc thái tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn trích được thể hiện rõ qua lời đối đáp giữa cô gái dân tộc (người ở lại) và anh bộ đội (người về xuôi).

Cô gái dân tộc: gợi nhớ về những kỉ niệm của cách mạng thời kì còn khó khăn nhưng vẫn một lòng đoàn kết, xây dựng lực lượng, cùng nhau đánh giặc bảo vệ đất nước.

Anh bộ đội: đinh ninh một nỗi nhớ tha thiết quê hương cách mạng, một niềm thủy chung, son sắt và biết ơn con người Việt Bắc.

Câu 2: Qua hồi tưởng của Tố Hữu, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên như thế nào?

Cảnh Việt Bắc mang vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa nên thơ của quê hương cách mạng.

Con người Việt Bắc vất vả, lam lũ nhưng tình nghĩa, yêu thương, cần cù chịu khó.

⇒ Cảnh và người Việt Bắc hiện lên đẹp qua hồi tưởng của Tố Hữu chính là do con mắt nhìn đúng đắn, tiến bộ của nhà thơ đối với quê hương cách mạng và tấm lòng của ông đối với con người Việt Bắc ân tình, thủy chung, một lòng gắn bó với cách mạng.

Câu 3: Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu và vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến?

Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu đã được Tố Hữu khắc họa đẹp và đầy ấn tượng của “thế trận” rừng núi đã cùng ta đánh giặc, là bức tranh “Việt Bắc xuất quân” đầy hào khí.

Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến: là căn cứ địa của cách mạng, cái nôi của cách mạng, nơi đầu nguồn cách mạng với những địa danh lịch sử.

Câu 4: Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc của bài thơ (qua đoạn trích này)?

Thể thơ dân tộc: thể thơ lục bát được tác giả sử dụng nhuần nhuyễn, uyển chuyển và đầy sáng tạo.

Hình ảnh dân tộc: nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn,…

Lối phô diễn dân tộc: nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu; mình về mình có nhớ ta,…

Ngôn ngữ dân tộc: cách xưng hô ta – mình dùng rất sáng tạo

Nhịp điệu, nhạc điệu dân tộc: khi nhẹ nhàng, thơ mộng, khi đằm thắm, ân tình; khi mạnh mẽ, hùng tráng.

Câu 1: Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ và phân tích sắc thái tâm trạng, lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích.

Hoàn cảnh sáng tác:

Sau chiến thắng điện biên phủ, hiệp định giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết, hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10 – 1954, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Trong không khí lịch sử và tâm trạng khi chia tay Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác nên bài thơ Việt Bắc. Bài thơ đã ghi lại tình cảm và mối quan hệ gắn bó khắng khít, tình nghĩa sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc với cán bộ và chiến sĩ cách mạng.

Sắc thái tâm trạng:

Lối đối đáp:

Diễn biến tâm trạng được tổ chức theo lối đối đáp giao duyên trong ca dao – dân ca: bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ, người hô ứng.

Hỏi và đáp điều mở ra bao nhiêu kỷ niệm về cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, bao nỗi niềm nhớ thương.

Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là lời độc thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến.

Câu 2: Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên như thế nào?

a. Cảnh vật núi rừng Việc Bắc hiện lên với vẻ đẹp vừa hiện thực vừa mơ mộng:

Không gian đặc trưng của Việt Bắc hiện lên mỗi lúc một rõ nét hơn trong kí ức người cán bộ cách mạng lên đường vê xuôi: trăng đầu núi, chiều lưng nương.

Thiên nhiên Việt Bắc được miêu tả theo bốn mùa, mỗi mùa có một đặc trưng riêng, tạo nên một bức tranh tứ bình rất đẹp:

Mùa xuân: trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống với “mơ nở trắng rừng”.

Mùa hè: rực rỡ, sôi động với âm thanh “rừng phách đổ vàng”.

Mùa thu: yên ả, thanh bình, lãng mạn với hình ảnh “trăng rọi hoà bình”.

Mùa đông: tươi tắn, không lạnh lẽo với hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”.

Thiên nhiên trở nên đẹp hơn, hữu tình hơn khi có sự gắn bó với con người. Đó là cảnh làng bản ấm cúng, cảnh sinh hoạt kháng chiến ở chiến khu, cảnh thơ mộng ân tình, cảnh sinh hoạt đặc trưng của Việt Bắc…

b. Con người Việt Bắc:

Những con người gắn bó lâu bền bên nhau, chia ngọt sẻ bùi trong cuộc sống gian lao, thiếu thốn mà đầy ắp nghĩa tình.

“Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”.

Hình ảnh người mẹ thương con lam lũ cần cù, gắn bó thủy chung với cách mạng :

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”.

Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc êm ả, bình dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa.

Con người lao động khỏe khoắn, cần cù, khéo léo :

Con người trong tư thế lao động với dáng vẻ khỏe khoắn giữa thiên nhiên kì vĩ : đi nương, dao gài ở thắt lưng, chuôi dao bạc sáng lên dưới ánh nắng mặt trời…

Con người Việt Bắc với thao tác lao động cụ thể, phẩm chất cần cù, tỉ mĩ, khéo léo: Chuốt từng sợ giang.

Cô gái Việt Bắc hái măng giữa rừng.

⇒ Bằng những việc làm tưởng chừng như nhỏ bé của mình, con người Việt Bắc đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.

Câu 3: Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến đã được Tố Hữu khắc họa ra sao?

a. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu:

Bức tranh Việt Bắc ra quân hùng vĩ: “Những đường Việt Bắc… như ngày mai lên”.

⇒ Diễn tả được khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp: không khí sôi động với nhiều lực lượng tham gia, những hoạt động tấp nập ⇒ thể hiện được sức mạnh của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Hình ảnh bộ đội ta hành quân ra trận với những bước đi mạnh mẽ như những đợt sóng dâng trào, tưởng chừng như kéo dài đến vô tận: “Quân đi…mũ nan”.

Niềm lạc quan tin tưởng vững chắc vào ngày mai chiến thắng: “Nghìn đêm…ngày mai lên”.

b. Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:

Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước..

Việt Bắc là chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.

Khẳng định Việt Bắc là nơi có “Cụ Hồ sáng soi”, có “Trung ương chính phủ luận bàn việc công”.

Khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc bằng những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình.

Câu 4: Nhận xét về hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc trong đoạn trích.

Về thể loại:

Cấu tứ bài thơ là cấu tứ ca dao với hai nhân vật trữ tình “ta” và “mình”, người ra đi, người ở lại đối đáp nhau.

Sử dụng kiểu tiểu đối của ca dao ⇒ tạo nhịp thơ uyển chuyển, cân xứng, hài hoà, lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, cân xứng hài hoà.

Về ngôn ngữ:

Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất mộc mạc, giản dị nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào nghĩa tình.

Ngôn ngữ giàu hình ảnh cụ thể.

Sử dụng nhuần nhuyễn phép trùng điệp của dân gian.

Giọng điệu trữ tình thiết tha, êm ái, ngọt ngào như âm hưởng lời ru, đưa ta vào thế giới của kỷ niệm và tình nghĩa thuỷ chung.

Câu 1: Bố cục và nội dung chính của từng phần?

Gồm 3 phần:

Phần 1: (8 câu đầu): cảm xúc khi chia tay

Phần 2: (từ câu 9 đến câu 20): Lời người Việt Bắc

Phần 3: (còn lại): Lời người cách mạng

Câu 2: Vẻ đẹp thiên nhiên và con người qua hồi tưởng của tác giả?

Thiên nhiên trở đẹp, hữu tình.

Con người lao động khỏe khoắn, cần cù, khéo léo.

Nêu những biểu hiện của tính dân tộc trong hình thức nghệ thuật thơ Tố Hữu?

Thể thơ lục bát

Ngôn ngữ giản dị, đời thường

Câu 4: Xuân Diệu viết: “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”. Cần hiểu nhận xét đó như thế nào?

Đặc điểm thơ trữ tình – chính trị của thơ Tố Hữu:

Thơ chính trị quan tâm đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, có tính toàn dân, quan hệ tới vận mệnh sống còn của cả một dân tộc, một đất nước. Thơ chính trị của Tố Hữu rất quan tâm đến con người, đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng, cái ta với cái tôi, tình cảm cộng đồng với những tình cảm của cá nhân.

Thơ Tố Hữu cũng góp phần hướng đến thực hiện nhiệm vụ chính trị, đề cập đến những vấn đề lớn lao của đất nước, phản ánh từng chặng đường lịch sử của dân tộc và khí thế hào hùng của cách mạng dân tộc.

Thơ Tố Hữu là những dòng thơ có tính chất hô hào, cổ động phong trào cách mạng của dân tộc ta, thể hiện nhiệt huyết cách mạng sục sôi.

Tuy nhiên, trong thơ Tố Hữu, chính trị không phải là những lời lí thuyết suông, khô khan, giáo điều, không phải là những lời hô hào mang tính áp đặt mà nó đã được nhà thơ chuyển hóa thành những vấn đề tình cảm, đậm chất trữ tình:

Đó là những lời tâm sự chân thành của người thanh niên trẻ khi bắt gặp lí tưởng cách mạng và nguyện chiến đấu vì lí tưởng đó.

Đó là những lời nhắn nhủ, trò chuyện, lời tâm sự chứa chan niềm tin yêu vào đồng bào, đồng chí tác động mạnh mẽ tới tình cảm, cảm nghĩ của người đọc, người nghe.

Câu 1: Nêu rõ nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta trong bài thơ.

Gợi ý làm bài:

Cách sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta trong bài thơ đã tạo ra chiều sâu trong tình cảm của con người. Lối đối đáp quen thuộc của ca dao tạo nên một giọng điệu ngọt ngào, sâu lắng.Lời người việt bắc nói với người kháng chiến là những bộc bạch, tâm tình, vừa như hỏi, vừa như khẳng địnhtình cảm giữa mình và ta.

Cách xưng hô mình, ta cũng có sự chuyển hóa linh hoạt, trong ta thấy mình, trong mình có ta :

Khi mình chỉ những người cán bộ, ta chỉ người Việt Bắc: Mình về mình có nhớ ta / Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Khi mình chỉ người Việt Bắc, ta chỉ người cán bộ: Ta về, mình có nhớ ta / Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Khi mình chỉ cả người cán bộ và người Việt Bắc: Mình đi mình lại nhớ mình / Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu.

Câu 2:

Phân tích vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc qua đoạn thơ sau:

Ta về, mình có nhớ ta?

Ta về ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng, Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng, Nhớ cô em gái hái măng một mình. Rừng thu trăng rọi hòa bình, Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. Gợi ý làm bài: a. Mở bài

Việt Bắc, khúc ca trữ tình nồng nàn, đắm say về những lẽ sống lớn, ân tình lớn của con người cách mạng.

ỗi nhớ hướng về cảnh và người ở quê hương Việt Bắc là một nội dung nổi bật của bài thơ, được thể hiện hết sức xuất sắc trong đoạn thơ trên.

b. Thân bài

Bức thứ nhất của bộ tranh tả cảnh mùa đông:

Màu hoa chuối đỏ tươi đã làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già.

Hình ảnh con người được nói tới sau đó chính là điểm sáng di động của bức tranh. Tác giả thật khéo gài con dao ở thắt lưng người đi trên đèo cao khiến hình ảnh đó trở nên nổi bật.

Bức tranh thứ hai tả cảnh mùa xuân bằng gam màu trắng:

Xuân về,rừng hoa mơ bừng nở. Màu trắng tinh khiết của nó làm choáng ngợp lòng người.

Âm điệu hai chữ “trắng rừng” diễn tả rất đạt sức xuân nơi núi rừng và cảm giác ngây ngất trong lòng người ngắm cảnh.

Người đan nón có dáng vẻ khoan thai rất hòa hợp với bối cảnh.

Bức tranh thứ ba nói về mùa hè:

Gam màu vàng được sử dụng đắt địa. Đó là “màu” của tiếng ve quyện hòa với màu vàng của rừng phách thay lá.

Do cách diễn đạt tài tình của rừng phách, ta có cảm tưởng tiếng ve đã gọi dậy sắc vàng của rừng phách và ngược lại sắc vàng này như đã thị giác hóa tiếng ve.

Hình ảnh “cô gái hái măng một mình” xuất hiện đã cân bằng lại nét tả đầy kích thích ở trên ⇒ khơi dậy những xúc cảm ngọt ngào.

Bức tranh thứ tư vẽ cảnh mùa thu với ánh trăng dịu mát, êm đềm.

Trên nền bối cảnh ấy, “tiếng hát ân tình thủy chung” ai đó cất lên nghe thật ấm lòng. Đây là tiếng hát của ngày qua hay tiếng hát của thời điểm hiện tại đang ngân nga trong lòng người sắp phải giã từ Việt Bắc?

c. Kết bài

* Đoạn thơ có vẻ đẹp lộng lẫy đã được viết bằng một ngòi bút điêu luyện. Đọc nó, ấn tượng sâu sắc còn lại là nghĩa tình đối với “quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa”.

Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

Mở Bài Và Kết Bài Việt Bắc Của Tố Hữu

Mở bài, kết bài phân tích Việt Bắc

Hiện tại kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc Gia năm 2020 chưa diễn ra. Tuy nhiên, nội dung đề thi THPT Quốc Gia 2020 môn Văn và gợi ý Đáp án Đề thi THPT Quốc Gia 2020 môn Văn sẽ được VnDoc cập nhật ngay khi hết thời gian làm bài tại link sau: Đáp án Đề thi THPT Quốc Gia 2020 môn Văn

Tổng hợp các mẫu mở bài và kết bài Việt Bắc của Tố Hữu

I. Mở bài phân tích bài thơ Việt Bắc

1. Mở bài phân tích Việt Bắc mẫu 1

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ qua đối đáp của hai nhân vật Mình – Ta đã trở thành một bài ca không bao giờ quên về những năm tháng kháng Pháp gian khổ, hào hùng mà nghĩa tình son sắt, thuỷ chung. Tất cả những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của Việt Bắc đã được ngòi bút Tố Hữu tập trung thể hiện tinh tế qua đoạn thơ… (sử dụng linh hoạt tùy vào đề bài để điền tiếp vào chỗ trống)

2. Mở bài phân tích Việt Bắc mẫu 2

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng triết lý: “Khi ta ở, đất chỉ là nơi ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Và có một mảnh đất tình người đã hóa thân thành hồn thành nỗi nhớ trong lòng người cán bộ về xuôi. Đó là mảnh đất Việt Bắc ân tình – quê hương của kháng chiến, quê hương của những con người áo chàm nghèo khó mà “đậm đà lòng son” khiến ai đã từng đặt chân đến nơi đây cũng phải bồi hồi, xao xuyến . Mảnh đất ấy đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ, thành cảm hứng cho thơ ca. Và có một bài thơ đã ra đời vì mảnh đất yêu thương nghĩa tình ấy – đó là bài thơ Việt Bắc của nhà thơ cách mạng Tố Hữu.

3. Mở bài phân tích Việt Bắc mẫu 3

Tố Hữu đã từng nói: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy”, chính những niềm thương, nỗi nhớ trào dâng ấy đã tạo ra những rung động mãnh liệt trong cảm xúc để rồi thơ ca đã trào ra bao nỗi nhớ thương vô vàn. Việt Bắc chính là những rung động mạnh liệt ấy của Tố Hữu. Bài thơ là kết tinh, là di sản của “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc. Tác phẩm là một khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bài thơ được viết ra như lời hát tâm tình của một mối tình thiết tha đầy lưu luyến giữa người kháng chiến và đồng bào Việt Bắc được thể hiện qua lăng kính trữ tình – chính trị, đậm tính dân tộc và ngòi bút dạt dào cảm xúc của thi nhân.

4. Mở bài phân tích Việt Bắc mẫu 4

Tác giả Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Bài thơ của tác giả Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ của ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là tác phẩm đỉnh cao của Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ là sự kết của hai nhân vật Mình – Ta đã trở thành một bài ca không bao giờ quên về những năm tháng kháng Pháp gian khổ, hào hùng mà tình nghĩ sắt son, thuỷ chung. Tất cả những giá trị về nội dung và nghệ thuật đặc sắc của Việt Bắc đã được ngòi bút của tác giả Tố Hữu tập trung thể hiện tinh tế qua đoạn thơ.

5. Mở bài phân tích Việt Bắc mẫu 5

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nói rằng: “Khi ta ở, đất chỉ là nơi ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Và từ đó đã có một có một mảnh đất tình người đã hóa thân thành hồn thành nỗi nhớ trong lòng người cán bộ về xuôi. Nơi là mảnh đất Việt Bắc ân tình – quê hương của kháng chiến, quê hương của những con người áo chàm nghèo khó mà “đậm đà lòng son” khiến những ai đã từng đặt chân đến nơi đây cũng phải hồi, xao xuyến . Mảnh đất Việt Bắc đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ, thành cảm hứng cho thơ ca. Và có một bài thơ đã ra đời vì mảnh đất Việt Bắc yêu thương nghĩa tình ấy – đó chính là bài thơ Việt Bắc của nhà thơ cách mạng Tố Hữu.

6. Mở bài phân tích Việt Bắc mẫu 6

“Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)

Đã từ rất lâu mảnh đất Tây Bắc – Điện Biên được coi là quê hương của sự kháng chiến chống giặc, quê hương của những anh hùng, đây là mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng trĩu ân tình khiến ai đã đặt chân đến đây cũng phải bồi hồi, xuyến xao. Mảnh đất ấy đã trở thành niềm thương, trở thành nỗi nhớ cho những ai đã từng đến rồi lại phải đi. Có người đã từng nói rằng: “Thơ chỉ trào ra khi trong tim anh mọi thứ đã thật ứ đầy”, chính từ những niềm thương, nỗi nhớ trào dâng ấy đã tạo ra những rung động mãnh liệt trong cảm xúc con người để rồi nhà thơ Tố Hữu – Một người lính đã từng gắn bó sâu đậm với mảnh đất này viết nên tác phẩm “Việt Bắc” – tuyệt tác của đời mình. Tác phẩm là một khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và những con người kháng chiến. Bài thơ được viết ra như lời hát về tâm tình của một mối tình thiết tha đầy lưu luyến giữa những con người kháng chiến và đồng bào Việt Bắc đã được thể hiện qua lăng kính trữ tình- chính trị, đậm tính dân tộc và ngòi bút dạt dào cảm xúc của thi nhân.

7. Mở bài phân tích Việt Bắc mẫu 7

Khi nhắc tới Tố Hữu, không ai không nhớ tới bài thơ Việt Bắc. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ “nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”, hòa bình được lặp lại ở miền Bắc. Từ thủ đô kháng chiến gió ngàn, Trung ương Đảng và Chính phủ trở về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Tố Hữu là một người chiến sĩ cách mạng từng sống một quãng đời với Việt Bắc, gửi một phần tâm hồn mình nơi Việt Bắc. Nay phải rời xa chiến khu, trong tâm trạng bịn rịn, nhớ thương của người đi kẻ ở, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ này. Bài thơ là cả nỗi niềm chất chứa, nhớ nhung của nhân vật trữ tình dành cho những con người trọn tình trọn nghĩa nơi Việt Bắc dấu yêu.

8. Mở bài phân tích Việt Bắc mẫu 8

Tố Hữu là lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Dù là nói chuyện mình hay kể chuyện người thì nhà thơ cũng chỉ hướng đến nguồn cảm xúc lớn lao về đời sống chính trị cách mạng của dân tộc. Và ông làm thơ bằng những rung động của trái tim. Ông từng tâm sự “Tôi đã phải lòng nhân dân, đất nước mình cho nên khi nói về nhân dân, đất nước tôi như đang nói chuyện với người đàn bà mình yêu”. Nội dung chính trị kết hợp với chất tâm tình là nét đặc trưng trong phong cách nghệ thuật của Tố Hữu. Bài thơ Việt Bắc là một tác phẩm đậm chất trữ tình của nhà thơ khi mượn hình tượng “mình – ta ” để bộc lộ nỗi nhớ sau chiến thắng phải chia xa.

II. Kết bài phân tích bài thơ Việt Bắc

1. Kết bài phân tích Việt Bắc mẫu 1

Giọng thơ lục bát nhẹ nhàng mà sâu lắng kết hợp với kết cấu xưng hô “Ta- mình”, bài thơ ôm chứa niềm lạc quan, vui sống và tin tưởng vào con người Việt Bắc. Nó mang âm điệu trữ tình, thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người tha thiết và tấm lòng yêu nước của Tố Hữu. Cuối bài thơ vang lên tiếng hát ngọt ngào khơi gợi bao kỉ niệm. Kỉ niệm ấy theo mãi trong lòng người đi và quấn quýt trong dấu chân của người ở lại. Lời thơ giản dị mà trong sáng thể hiện niềm rung động thật sự trước vẻ đẹp của núi rừng và con người Việt Bắc. Nỗi nhớ của Tố Hữu đã đi vào trong lòng người đọc, như khúc dân ca dịu dàng để lại bao say đắm về một mảnh đất gắn bó với biết bao con người, mà có lần Chế Lan Viên đã từng viết.

“Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”

2. Kết bài phân tích Việt Bắc mẫu 2

Là người, ai mà chẳng có trong tim mình một miền đất để nhớ để thương. Bởi “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Có lẽ vì thế mà quê hương cách mạng Việt Bắc đã không ngần ngại chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu viết nên thi phẩm cùng tên mà ngày nay chúng ta vẫn nâng niu trên tay như một hòn ngọc quý.

3. Kết bài phân tích Việt Bắc mẫu 3

Như vậy, bằng giọng thơ mang đậm tính trữ tình – chính trị, tác giả Tố Hữu đã tái hiện thành công một sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc với tình cảm tha thiết, chân thành. Qua đó, chúng ta có thể thấy được bức chân dung chân thực, sinh động của những người chiến sĩ cách mạng qua công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân. Đó chính là nền tảng để xây dựng nghĩa tình cách mạng thủy chung, son sắt trong những năm tháng “mưa bom, bão đạn”. Đồng thời thể hiện tính toàn dân trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước – một trong những yếu tố tạo nên chiến thắng vẻ vang “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” của chiến dịch Điện Biên Phủ.

4. Kết bài phân tích Việt Bắc mẫu 4

Với giọng thơ lục bát nhẹ nhàng mà sâu lắng kết hợp với kết cấu xưng hô “Ta- mình”, bài thơ ôm chứa bao nhiêu là niềm lạc quan, vui sống và tin tưởng vào con người Việt Bắc. Nó mang âm điệu của trữ tình,thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người tha thiết và tấm lòng yêu nước của Tố Hữu. Cuối bài thơ vang lên tiếng hát ngọt ngào khơi gợi lên bao kỉ niệm. Kỉ niệm ấy theo mãi trong lòng người đi và quấn quýt trong từng dấu chân của người ở lại. Lời thơ với giọng điệu giản dị mà trong sáng thể hiện niềm rung động thật sự trước vẻ đẹp của núi rừng và con người Việt Bắc. Nỗi nhớ của nhà thơ Tố Hữu đã đi vào trong lòng người đọc, như khúc dân ca dịu dàng để lại bao say đắm ngọt ngào về một mảnh đất đã gắn bó với biết bao con người, mà có lần Chế Lan Viên đã từng viết”

” Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”

Đề minh họa 2020 lần 2

Đề minh họa môn Toán 2020 lần 2

Đề minh họa Ngữ văn năm 2020 lần 2

Đề minh họa môn Tiếng Anh 2020 lần 2

Đề minh họa môn Hóa năm 2020 lần 2

Đề minh họa môn Vật lý năm 2020 lần 2

Đề minh họa môn Sinh học năm 2020 lần 2

Đề minh họa Địa Lý năm 2020 lần 2

Đề minh họa môn Lịch sử năm 2020 lần 2

Đề minh họa môn GDCD năm 2020 lần 2

Đề minh họa tiếng Đức năm 2020 lần 2

Đề minh họa tiếng Nhật năm 2020 lần 2

Đề minh họa tiếng Nga năm 2020 lần 2

Đề minh họa tiếng Trung Quốc năm 2020 lần 2

Bạn đang xem bài viết Việt Bắc Của Tố Hữu trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!